Nobel Vật Lý 2017: Đang mở ra những thế giới chưa từng thấy!

Năm 1916 nhà bác học Albert Einstein nói ông tin vào sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Năm nay, 101 năm sau phát biểu của Einstein, giải Nobel Vật Lý được trao cho  Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne vì đã phát hiện ra được sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Trong thông báo về giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy điển nói về giải Nobel Vật lý 2017 năm nay: “Đây là một thứ hoàn toàn mới và khác biệt, đang mở ra những thế giới chưa từng thấy.”

(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số tuần này, tức tuần công bố giải Nobel 2017). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).

*

Năm 1916, một nhà vật lý người đức, lúc này đang sĩ quan pháo binh trên mặt trận Nga, tên là Karl Schwarzschild, đã giải các phương trình tensor của Einstein và tìm ra một nghiệm kỳ lạ. Theo nghiệm này, xung các ngôi sao có khối lượng cực lớn có một không quyển kỳ ảo (magical sphere). Tất cả mọi thứ, kể cả ánh sáng, khi đi vào không quyển này sẽ bị hút vào ngôi sao khổng lồ và không có cách nào thoát ra được. Schwarzschild còn tính toán được bán kính của không quyển kỳ ảo này. Bán kính này được gọi là bán kính Schwarzschild  hoặc bán kính hấp dẫn (gravitational radius).

main-qimg-16937fefd7824b98e56b9a657bbb311b-c

Schwarzschild qua đời trên mặt trận Nga và không biết rằng mình đã tìm ra một thứ, về sau được John Wheeler đặt tên: Hố Đen (Black Hole). Không quyển ma quái mà Schwarzschild tìm ra, ngày nay được gọi là Chân trời sự kiện (event hoziron), hàm ý đấy là nơi xa nhất mà  tầm mắt của người quan sát có thể với tới (sau chân trời là hố đen, nơi mà ánh sáng nếu vươn tới sẽ bị nuốt vào và không bao giờ trở lại).

main-qimg-a1f5c6d5455ada34815c84f510aa5877

Cũng năm 1916, Einstein đề xuất sự tồn tại của một sóng gọi là sóng hẫp dẫn, một loại sóng mang lực hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng. Einstein đã tìm thấy sóng trên lý thuyết bằng cách giải các phương trình của mình, cũng như dự báo các ngôi sao đôi quay quanh một trục chung sẽ dần sát lại với nhau để rồi lao vào nhau do năng lượng mất dần do bị bức xạ vào không gian dưới dạng sóng hấp dẫn.

Để biết chi tiết hơn, xem bài Tiếng vọng từ sáng thế.

Tiếp tục đọc

Advertisements
Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , ,

Kể một chuyện tình và một bài thơ

Chuyện tình và bài thơ (của Paul Eluard) được dịch bằng google translate, có sửa lại qua loa bằng tay.

*

my-wife-nude-contemplating-her-own-flesh-becoming-stairs-three-vertebrae-of-a-column-sky-and

Người ta vẫn nói đằng sau một người đàn ông kỳ vĩ là một người đàn bà còn kỳ vĩ gấp bội. Điều này chuẩn vãi với người đàn ông kỳ vĩ Dalí.

Chắc chắn rằng nếu không có Gala, người bạn tình và rồi là người vợ, Salvador Dalí sẽ không bao giờ đạt được thành công to lớn và uy tín phổ quát như một biểu tượng điên rồ của chủ nghĩa siêu thực.

Helena Ivanovna Diakonova sinh ra ở Nga.

Năm 17 tuổi, nàng  yêu Paul Pooh và trở thành một phần của phong trào Siêu thực ở Paris. Nàng là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ và nhà thơ, trong đó có André Breton và họa sĩ Max Ernst.

Nàng, Paul Éluard và Max Ernst đã trải qua một mối tình tay ba suốt ba năm. Một ‘ménage à trois‘ cả ba người làm tình như một.

Năm 1929, nàng gặp Salvador Dalí, một chàng nghệ sĩ trẻ hơn nàng mười tuổi. Dalí là một gã giai vẫn còn gin vì anh mắc chứng sợ bộ phận sinh dục nữ hay còn gọi là chứng vãi bím. Còn Gala lúc này đã khá nổi tiếng vì ham muốn tình dục mạnh mẽ của mình, cùng vô số chuyện ngoại tình.

Nhưng rồi Dalí và Gala trở nên không thể tách rời. Trong thập niên 1930, anh bắt đầu ký tên chung của hai người dưới các bức tranh của mình.

Nàng được coi là có khả năng lôi kéo và hủy hoại, thậm chí ở cuối độ tuổi 70 nàng vẫn có quan hệ với Jeff Fenholt, ca sĩ 22 tuổi của ca đoàn ‘Jesus Christ Superstar’.

Dalí viết: “Tôi quan tâm đến Gala hơn bản thân mình, nếu không có cô ấy, tất cả sẽ kết thúc.”

*

Ecstasy

Thơ của Paul Éluard Tiếp tục đọc

Đăng tải tại gái | Thẻ , ,

Kể những chuyện tình

Cả ba chuyện tình (hai tình yêu, một tình bạn) dưới đây đều được dịch bằng google translate từ Anh sang Việt (và edit qua loa bằng tay).

*

Chuyện thứ nhất

b8651dd7041641520cabe3b9f10dd1bf

Họ gặp nhau trên phố Paris. Anh lẽo đẽo theo nàng tới chỗ làm.

Sau này anh kể, đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Bấy giờ là năm 1893 và anh chỉ là một họa sĩ hậu ấn tượng non nớt mới được biết đến với những khung hình âu yếm và riêng tư.

Tên nàng là Marthe. Lúc đầu nàng nói dối anh cả tên lẫn tuổi. Nàng yếm thế, ưa lánh đời, và bị một căn bệnh buộc nàng phải tắm suốt ngày.

Vẻ lặng lẽ né tránh cuộc đời của nàng trở thành chủ đề trong tranh của anh suốt nửa thế kỷ, kể từ lúc họ quen nhau.

Anh là họa sĩ Pháp Pierre Bonnard.

Anh vẽ nàng, chủ yếu bằng ký ức, và bằng những bức ảnh chụp nàng lúc riêng tư. Trong tranh anh, nàng không bao giờ già đi. Anh vẽ nàng trong buồng tắm, trong buồng ngủ, và trong vườn. Anh vẽ nàng ngập tràn trong ánh sáng vàng son êm ả và màu sắc rực rỡ của cầu vồng.

Anh tan nát cõi lòng khi nàng chết, năm 1942. Trong thư gửi bạn mình là Henri Matisse, anh viết : “Anh có thể tưởng tượng được nỗi tiếc thương và sự cô đơn của tôi, chất chồng vị đắng và nỗi đau của cuộc đời mà tôi từ nay phải sống.” Tiếp tục đọc

Đăng tải tại gái | Thẻ , , , ,

Phim Vietnam War, ông Duẩn, ông Nhu, ông Giáp

Thế chiến thứ hai có một trận đánh cực kỳ dài và khốc liệt giữa liên quân phe trục do Phát xít Đức lãnh đạo và quân Liên Xô. Đó là trận Stalingrad. Trận đánh đẫm máu này làm phe Đức chết khoảng gần 1 triệu lính, bên Liên Xô chết khoảng hơn 1 triệu lính.

Nhận xét về phía ý thức hệ của trận đánh này, có người nói đây là trận đánh của phe Hegel cánh hữu (nước Đức theo chủ nghĩa phát xít) đánh nhau với Hegel cánh tả (nước Nga theo chủ nghĩa Stalin).

Đầu những năm 1960, cả ông Nhu và ông Duẩn đều hiểu nếu hai miền thực sự phải đối đầu bằng quân sự chính quy, thì Nam Việt Nam với đường lối cánh hữu nhuốm màu phát xít mới của ông Nhu sẽ phải đánh nhau bằng chiến tranh quy ước với Bắc Việt Nam lúc này đầy chất Stalin. Ông Nhu đi tới thỏa hiệp, bí mật gặp gỡ phe miền bắc để đàm phán, rồi bị Mỹ giật dây lật đổ và sát hại. Có thể xem bài này, search theo từ khóa Lou Conein để biết quá trình Mỹ dựng và lật đổ đệ nhất cộng hòa ở Nam Việt Nam, và nếu có thời gian xem bài này về ông Nhu.

Trong phim Vietnam War của Ken Burns, khoảng tập 5, sẽ thấy thời kỳ trước khi Diệm và Nhu bị lật đổ, ông Duẩn và quân đội của ông đã rất tin vào thành công của việc thống nhất hai miền bằng vũ trang trong tương lai rất gần. Điều này rất hiện thực, và có thể đó là lý do chính để ông Nhu bí mật đàm phán với miền bắc.

Tiếp theo, phim Vietnam War cho thấy cái chết của Diệm-Nhu, rồi cái chết của Kennedy, dẫn đến việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965 (Diệm chống Mỹ đưa quân vào, Kennedy thì không mặn mà việc đưa quân sang, sau khi hai vị tổng thống này bị sát hại, Johnson đưa quân đến Việt Nam). Việc quân Mỹ vào Việt Nam đã làm đảo lộn kế hoạch của ông Duẩn. Trước một bàn cờ thế hoàn toàn mới, ông Duẩn đã buộc phải chơi những nước cờ hoàn toàn khác.

Trong tập 6, 7 và 8 của Vietnam War, những trận đánh của Lê Duẩn, mà đỉnh điểm là trận Mậu Thân và các trận tiểu Mậu Thân sau đó, đã dẫn đến hiệp định Paris. Những diễn biến này và tác động của nó đến Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, trừ trận Quảng Trị, được nói khá rõ trong phim. Có vẻ như nhìn từ phía Mỹ, trận Quảng Trị không liên quan nhiều đến đàm phán Paris, thay vào đó họ đề cao giá trị vụ dùng B-52 ném bom Hà Nội Noel 1972 nhiều hơn. Họ cho rằng nhờ vụ ném bom tàn khốc này mà phía Bắc Việt Nam quay lại ký hiệp định. (Phía Việt Nam lại cho rằng nhờ đánh Quảng Trị mà Mỹ xuống thang).

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phim, sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , ,

Màu rực rỡ của Lũng Luông

Cách nay hơn năm, đợt đó chuẩn bị khai trương công trình trường Lũng Luông, tôi cũng tham gia đoàn của Cơm Có Thịt đi lên Lũng Luông để “nghiệm thu” công trình. Lúc đó ảnh chụp ngôi trường này đã có trên youtube. Trước khi đi, bạn bè bảo: anh lên xem sao cái trường cho tiểu học mà làm màu lòe loẹt như mẫu giáo, lại còn làm ở mái.

Trường Lũng Luông nằm ở đỉnh một ngọn núi nhỏ. Chỗ đấy giống như đỉnh một quả đồi, khá bằng phẳng, tròn trịa. Từ trường có một vài đường mòn nhỏ tỏa ra thung lũng xung quanh, rồi ngược lên các triền núi bên cạnh. Học sinh đi theo các đường mòn đó đến trường. Leo theo các đường mòn đó, thi thoảng đứng lại, có thể nhìn xuống trường. Từ xa, và trên cao, có thể nhìn rõ cái mái trường “lòe loẹt” ấy.

Hôm đó trời mưa, anh Hào, là cái anh kiến trúc sư xây cái trường này, cứ cầm ô đi che cho thằng con trai tôi, mới 5 tuổi, hì hụi lội bùn đi theo các bác. Tôi hỏi anh Hào, sao anh làm cái mái màu sắc rực rỡ thế. Anh Hào bảo: Lúc xây trường này, mấy tháng liền mùa đông và mùa mưa phùn, cảnh vật ảm đạm lắm em ạ, anh quyết định làm cái mái như thế, nó như đốm lửa nhỏ giữa cảnh núi rừng mùa đông rét mướt.

Cái mái trường này, không phải sơn xanh phết đỏ lên tôn, mà là cái tôn tự nó có màu như thế. Theo như tôi hiểu thì tôn này là do bên Hoa Sen tài trợ, họ làm tôn và gửi từ nam ra cho anh Hào.

*

Dự án Lũng Luông tôi cho là một sự “tình cờ”. Hồi đó anh Châu nhận làm chủ tịch danh dự quỹ Cơm Có Thịt. Quỹ tổ chức một chuyến đi, có ba đoàn khác nhau cùng đi. Tôi bám càng đoàn của anh Châu và anh Vũ Hà Văn. Gọi là đoàn giáo sư. Hai đoàn còn lại một đoàn của anh Tuấn, và một đoàn lên tới Lũng Luông tôi mới biết là đoàn của cô Phượng. Cô Phượng tôi nhớ hôm đó không giống như trong ảnh hehehe, vì cô ăn mặc như sinh viên mới ra trường, đại khái quần cộc áo bỏ ngoài quần, đi giày thể thao, đội mũ, nhảy phắt một phát từ trên xe ô tô xuống đường.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đạo, đời | Thẻ

Khinh khí, nhiệt hạch

Hôm nay twitter tràn ngập tin Bắc Hàn thử thành công bom H.

Hôm nay Nhật Bản, Trung Quốc phát hiện (detect) được 2 cơn địa chấn nhân tạo (artificial earthquake) ở Bắc Hàn. Hai đợt động đất này cách nhau 8 phút. Cơn địa chấn thứ nhất có độ mạnh cấp độ 6.3 (6.3 magnitude).

Thế giới đã bỏ đơn vị đo (thứ nguyên) động đất cũ là Richter (đặt theo tên Charles F. Richter, người phát triển hệ đo sức mạnh của động đất này vào năm 1934). Hệ đo Richter (Richter Scale) không thể hiện chính xác độ mạnh của các cơn động đất lớn nên người ta nghĩ ra hệ đo động đất mà hiện nay thế giới đang sử dụng: Moment Magnitude Scale. Chữ cấp độ (magnitude) một thuật ngữ đã được dùng trong thiên văn học.

Cấp độ được tính theo logarith cơ số 10. Nghĩa là cứ tăng 1 cấp độ của thang đo, thì cường độ rung chấn mặt đất cao lên 10 lần. Tờ Wall Street Journal nói cơn địa chấn (động đất) nhân tạo ở Bắc Hàn hôm nay là Cấp độ 6.3, mạnh gấp 10 lần cơn địa chấn năm ngoái có Cấp độ 5.3 cũng do Bắc Hàn thử vũ khí hạt nhân.

Hạt Nhân, hay trước đây còn dịch là Hạch Tâm (Hạch = hạt, Tâm = nhân), là từ chữ Nuclear.

Vũ khí hạt nhân sử dụng năng lượng do các phản ứng liên quan đến hạt nhân của nguyên tử.

Lúc đầu công nghệ kém, người ta dùng năng lượng phân hạch (nuclear fission), tức là một hạt nhân nặng (nucleus of an atom ) phân chia (split) ra thành các hạt nhân nhẹ hơn, quá trình phân hạch này tạo ra năng lượng rất lớn. Quả bom ném xuống Nhật là bom phân hạch, vì thế gọi là bom A (A-bomb). A là viết tắt chữ Atom, tức là nguyên tử.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ , , , , , , ,

Cách chúng ta mưu sự hành động và lối sống

Thành ngữ phương tây có câu “Man proposes, God disposes”, vốn được dịch từ chữ latin “Homo proponit, sed Deus disponit”, hay được dịch qua tiếng ta là “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Năm 1927, có một hội nghị về cơ học lượng tử ở Solvay. Đây là hội nghị vật lý có thể nói là quan trọng nhất cho đến nay, nó tụ họp các bộ óc lớn nhất mọi thời đại, từ Marie Curie, Einstein … đến nhóm các nhà vật lý trẻ đang ở độ tuổi hai mươi, và nhiều người trong nhóm trẻ này đoạt giải Nobel chỉ vài năm sau đó.

Bên lề hội nghị, các chàng trai trẻ này thảo luận với nhau về nhiều chuyện. Và đột nhiên họ rơi vào đề tài tôn giáo và khoa học.

Heisenberg, lúc này đã trở thành cha đẻ của cơ học lượng tử hiện đại, dù mới hăm sáu tuổi, nằm ở phe bảo vệ quan điểm bất-mâu-thuẫn của Max Planck và Einstein về tôn giáo và khoa học. Các diễn giải và lập luận của Heisenberg rất thuyết phục, dù rằng sau đó anh bị Dirac phản đối khá gay gắt. Một vài ý tóm tắt như sau.

Khoa học làm việc [deal] với thế giới vật chất và khách quan. Tôn giáo làm việc với thế giới của các giá trị [world of values].

Tôn giáo xem xét cái gì [what] cần phải tồn tại [to be], hay cái mà chúng ta cần phải làm, chứ không xem xét (về khách quan) cái gì đó (thực sự) là gì [what is].

Trong khoa học chúng ta quan tâm đến việc phát hiện [discover] cái gì là đúng [true], cái gì là sai [false]; còn trong tôn giáo chúng ta quan tâm đến cái gì là thiện [good] cái gì là ác [evil], cái gì là cao quý [noble] và cái gì là tầm thường [base].

Khoa học là nền tảng của công nghệ. Tôn giáo là nền tảng của luân thường đạo lý [ethics].

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , ,

Toán và Lý

Mới đây anh Ngô Bảo Châu có bài phát biểu ngắn trong buổi lễ “kết nạp” anh vào đội thiếu niên tiền phong thuộc Viện hàn lâm Pháp.

Bài phát biểu này có tên “Số và Hình”.

Trong bài phát biểu, anh Châu nhiều lần nhắc đến Riemann và Poincaré.

Và nhắc rất ít đến vật lý. Nói đúng hơn anh nhắc đến thuyết hấp dẫn một lần ở giữa bài và cơ học cổ điển một lần vào cuối bài. Thế nhưng với hai tên tuổi lớn ở trên, ta có thể thấy câu hỏi “Vật lý hay Toán học” quay trở lại.

#

Poincaré là nhà toán học Pháp. Chết năm 1912. Ông có nhiều đóng góp lớn và có tính nền tảng vào toán vật lý. Trong đó có đóng góp vào nghiên cứu biến đổi Lorentz, phương trình Maxwell. Đây là các nền tảng toán học rất quan trọng để năm 1905 Einstein đưa ra Thuyết tương đối hẹp.

Riemann còn đồ cổ hơn. Nhưng đóng góp của ông về sau lại nằm trong vật lý hiện đại: góp phần khai sinh ra vũ trụ học.

Riemann chết năm 1866. Rất lâu sau khi Riemann qua đời, Einstein, lúc này đã rất nổi tiếng với thuyết tương đối hẹp, bước vào hành trình 10 năm vật lộn với toán học, từ năm 1905 tới năm 1915, để tìm ra Thuyết tương đối tổng quát.

Thuyết tương đối tổng quát về cơ bản là một lý thuyết vật lý về trường hấp dẫn trong không gian hình học bốn chiều. Và hình học rất khó nhằn đó là hình học Riemann.

#

Khám phá vĩ đại của Einstein, không đơn giản là một cuộc vật lộn thầm lặng để giải toán. Đó còn là một cuộc chạy đua căng thẳng của Einstein để cạnh tranh hết sức gay gắt với một nhà hình học giỏi nhất hồi bấy giờ là Hilbert.

Trong giai đoạn cuối của cuộc đua, Einstein căng thẳng (vì sợ thua) đến mức tuần nào cũng công bố các phương trình và nghiệm phương trình khác nhau (và lần nào cũng sai). Nhưng lần cuối cùng thì ông tìm ra phương trình đúng. Chiến thắng thuộc về Einsten. Chiến thắng đó giờ ai cũng biết tên: Thuyết tương đối tổng quát. Đây là thuyết khai sinh ra ngành vũ trụ học. (Còn cái phương trình thần thánh ấy thì ngắn tũn). Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , , ,

Giúp Google Translate học dịch tiếng Việt

Mọi người đọc xong, cố gắng giúp Google Translate/Google Brain học tiếng Việt nhé. Mỗi khi rảnh, chịu khó vào giúp “nó” học một tí tiếng Việt. Để sau này, nếu cần đọc tài liệu từ một thứ tiếng mình không biết (Hebrew, Aramaic, Hy Lạp, Latin, Đức, Nga, Nhật, Thổ ..) thì Google sẽ giúp ngược lại mình.

*

Cuối năm ngoái, tờ New York Times có đăng một bài rất dài về việc Google đã đưa AI (Trí tuệ nhân tạo) vào Googe Translate. Bài báo có tên rất hấp dẫn: The Great A.I. Awakening. Link bài báo ở đây.

Ngay đầu bài báo, tác giả đã làm một phát rất ấn tượng. Tác giả kể việc một giáo sư Nhật, ông Rekimoto, vào tháng 11 năm ngoái, đã thử dùng Google Translate để dịch một đoạn văn trong The Great Gatsby ra tiếng Nhật. Rồi so với hai bản dịch cuốn sách này ở Nhật: một bản của Takashi Nozaki năm 1957 và bản dịch của Haruki Murakami (bác này thì cực nổi ở VN rồi). Kết quả là bản dịch của Google tuy không được là “tiếng Nhật bóng bảy” như của Murakami, nhưng lại “rõ ràng hơn”.

Ông giáo sư này còn dịch một đoạn trong The snow of Kilimanjaro (Hemingway) ra tiếng Nhật, rồi nhập đoạn tiếng Nhật vào và bắt Google dịch ngược ra tiếng Anh. Rồi so sánh với bản gốc. Kết quả rất ấn tượng. Thậm chí 24 giờ sau, bản dịch tự nhiên tốt hơn nữa.

Bài báo tiếp tục, giới thiệu khái quát, nhưng cũng khá đầy đủ thông tin về trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning), học sâu (deep learning), mạng nơ-ron (neural network) và cuối cùng là một phần rất dài về Language Machine.

***

Trong bài báo rất dài này, có một đoạn khá dài và ấn tượng về một người Việt tên là Quoc Le (bài báo còn nói rõ là gốc Huế).

Với tiếng Việt, Google Translate sử dụng trí tuệ nhân tạo mới được sử dụng từ tháng 3 vừa rồi. Thế mà nó đã học và dịch rất giỏi. Tôi đã dùng nó để dịch một đoạn trong cuốn Quantum Physics của Leonard Susskind. Kết quả tạm ổn, tôi chỉ phải sửa có 3 từ, mà nó đã trở nên khá tốt. Đoạn dịch ấy, tôi copy phía dưới bài này.

Tôi đã nhờ người giới thiệu với Quoc Le, để hỏi xem cộng đồng có giúp gì được cho Google Translate không. Dưới đây là đoạn email bạn tôi nói về Quoc Le, và nội dung email mà Quoc viết về giá trị mà sự giúp đỡ của cộng đồng có thể đem lại.

***

Đây là email giới thiệu về Quốc.

Hi anh 5xu,

Giới thiệu với anh anh Quốc là người mà anh nhắc đến trong email. Anh Quốc là một trong những khoa học gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và học máy. Ảnh cũng là một trong những cánh chim đầu đàn của Google Brain, đơn vị chịu trách nhiệm về trí tuệ nhân tạo cho Google. Nhưng quan trọng hơn hết anh Quốc là một hậu vệ thép trong đội bóng của tụi em 🙂

Còn đây là email của Quốc :

V việc giúp Google Translate tt hơn, theo em thì cng đồng có th giúp hai việc: Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ , , , , , , ,

Sau lũy tre làng

Xem clip của người dân quay bằng điện thoại và đưa lên internet, tôi bỗng nhiên như thấy lại những người dân làng Hà Trì và Đa Sĩ mà tôi biết cách đây mấy chục năm, khi cả làng chưa nhà nào có TV, còn điện lưới yếu xìu, lúc chớp lúc tắt.

Những người dân quê ấy, nói tiếng nhà quê, đéo lác luôn mồm, sắc thái âm điệu lúc nào cũng như đang sẵn sàng gây sự.

Có lẽ, mấy chục năm là quá ngắn để thay đổi gốc rễ hay căn tính của người dân đồng bằng bắc bộ. Nhất là những gì được coi là “xấu xí”.

Nhưng đã có những sự khác biệt. Lũy tre làng không còn nữa. Đường làng đã đổ bê tông. Người dân làng biết dùng smartphone để quay clip, và đưa nó lên internet.

Và giữa những lời nói đéo lác khó nghe, những lời chửi bới tục tằn cán bộ nhà nước cố thủ trong xe hơi biển xanh, là những tiếng nói mạch lạc: không được chạm vào xe, mình không có thẩm quyền, chỉ chửi thôi không được đánh.

Internet có thể không làm thay đổi được tính cách, nhất là tính xấu của người dân nông thôn, nhưng đã làm thay đổi được nhận thức của họ.

*

Trong các sách quản trị cao cấp, người ta luôn khuyên rằng, quy mô của một nhóm làm việc xuất sắc không nên quá 9 người, của một nhóm mạnh và hiệu quả không nên quá 150 người, và quy mô của một công ty hay chi nhánh lớn không nên quá 1500 người. Các công ty như Facebook, Google, Twitter trước khi IPO đều ở ngưỡng 1500 nhân viên.

Vậy mà số người dân đang cố thủ kia lên tới 6000 người, và có vẻ như họ đang vận hành khá tốt. Có lẽ các yếu tố họ tộc đan chéo lẫn nhau trong 6000 con người này, giúp cho họ, những người chắc chắn là mù tịt về quản trị, đang tổ chức tốt các hoạt động của mình.

Không những thế, họ còn tổ chức rất tốt việc chống “hacking” từ bên ngoài. Câu chuyện của cô nhà báo Vnexpress là một ví dụ. Câu chuyện về hai người dân làng, anh Ba và anh Công, bị công an bắt và thả về sớm, cũng bị dân làng trói và giam riêng ra, cũng là một cách “chống phản gián, nội gián, chống chia rẽ” rất xuất sắc.

Có lẽ, cũng như các làng quê khác ở bắc bộ, thôn xã nào cũng có cựu chiến binh. Những bài học từ quân đội, nay trở thành phương pháp thực hành chốn thôn quê.

Thôn quê ấy tình cờ lại có tên là Đồng Tâm.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ ,