Kakistocracy

Hôm qua cần phải tra từ nguyên của từ “catacomb”. Đang tra online thì thấy từ điển nó báo ở phần trending tìm hiểu từ nguyên, đứng ở vị trí số một là từ  “Kakistocracy”.

Lúc sau xem twitter của Washington Post, nó tweet là “Từ kakistocracy, có tuổi đời 374 năm, có nghĩa là “goverment by the worst”, vừa nhoi lên trong từ điển”.

Giật mình, tưởng Washinton Post nói đến vụ đánh thuế “trú thân” ở nước mình.

Ngày xưa vua đánh thuế thân

Ngày nay kakis đánh chỗ trú thân dân mình

 

Advertisements
Đăng tải tại nhảm | Thẻ

Bức xạ của Hawking

Bài viết cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, để vĩnh biệt Hawking. Đọc trên bản in dễ chịu và dễ hiểu hơn vì layout diễn đạt được các phần khác nhau. Các bạn nên mua …báo in.

*

Phát kiến “Lỗ đen không đen hoàn toàn” và nhiều hiểu biết vật lý sâu sắc khác của Stephen Hawking đã tạo ra các đột phá trong vật lý vũ trụ.

*

**

Stephen Hawking bắt đầu học vật lý ở đại học Oxford khi mới 17 tuổi, trẻ hơn hầu hết các sinh viên cùng khóa. Nhờ trí óc vượt trội, tính trung bình anh chỉ học khoảng một giờ một ngày trong suốt thời gian học đại học. Vào năm cuối cùng ở đại học, anh có triệu chứng của một người già vụng về, hay bị ngã khi đi cầu thang. Đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán là do uống bia, yêu cầu anh phải ngừng nhậu nhẹt.

Năm 21 tuổi, sau khi tốt nghiệp hạng ưu và chuyển qua làm nghiên cứu sinh, các bác sĩ chẩn đoán Hawking mắc chứng bệnh nan y: xơ cứng teo cơ. Họ dự đoán anh chỉ còn hai năm để sống.

Người thanh niên trẻ trung, có khiếu hài hước và đặc biệt thông minh ấy bắt đầu sống từng ngày của hai năm cuối cùng của cuộc đời trong sự lạnh lẽo tối tăm không hạnh phúc, không niềm vui của chứng trầm cảm. Tình cờ anh gặp Jane Wilde trong một tiệc năm mới. Họ yêu nhau. Tình yêu của Jane kéo Stephen lên khỏi vực sâu trầm cảm và đặt anh trở lại công việc nghiên cứu khoa học.

Thế rồi họ lấy nhau, họ cần tiền để sống, và sự nghiệp khoa học của Stephen Hawking bắt đầu rẽ sang hướng khác.

*

**

Ngành vũ trụ học hiện đại ra đời sau khi Einstein công bố thuyết tương đối tổng quát năm 1915. Đến cuối những năm 1950, ngành này vẫn còn chập chững, và hiểu biết của các nhà vật lý, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm vẫn còn khá giới hạn. Qua thập niên 1960, các nhà vật lý bắt đầu có những bước tiến mới nhưng họ chưa đạt được đồng thuận về nhiều vấn đề.

Mặc dù nghiệm Big Bang của phương trình thuyết tương đối Einstein đã được nhà vật lý xô viết Alexander Friedmann tìm ra trong quãng thời gian 1922-1924 nhưng nhiều nhà vật lý, nhất là các nhà vật lý xô viết, vẫn tìm cách từ chối hoặc né tránh thuyết Big Bang, tức là không công nhận vũ trụ và thời gian có điểm khởi đầu (quan niệm vật lý truyền thống cho rằng thời gian không có khởi đầu và không có kết thúc, vô thủy vô chung).

Tương tự như vậy, nghiệm lỗ đen được nhà thiên văn học người Đức Karl Schwarzschild tìm ra năm 1916 bằng cách giải hệ phương trình của Einstein, và cũng có khá nhiều nhà vật lý công bố các công trình nghiên cứu về lỗ đen từ trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nhưng rất nhiều nhà vật lý châu Âu cho đến tận đầu những năm 1970 vẫn không tin vào sự tồn tại của lỗ đen. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , , , , , , , , , , , , ,

Miếng ăn

Hôm nay trên mạng lan truyền một cái ảnh, không rõ thật hay fake, chụp các đồng chí anh nuôi bày bếp dầu nấu ăn trên boong chiến hạm, dưới đít tên lửa.

Miếng ăn, là miếng tồi tàn. Miếng ăn, là miếng nhục. Không phải tự nhiên các cụ nói vậy.

Dân mình, thấy miếng ăn ở khắp mọi nơi.

Các sự kiện quan trọng nhất trong đời một con người, vui hay buồn, đều phải có ăn: ăn hỏi, ăn cưới, ăn sinh nhật, ăn đám ma, ăn giỗ.

Các lễ lạt trong năm, có tính chu kỳ, năm nào cũng có và cũng ăn: ăn rằm, ăn Tết.

Ngày xưa ra đường làng gặp nhau, thay câu chào, là câu hỏi: ăn chưa, cơm nước gì chưa?

Nói chuyện liên quan đến mồm, có chữ “ăn” đã đành: ăn nói. Mặc quần áo cũng phải dính đến ăn: ăn mặc. Học hành cũng phải ăn: ăn học. Thậm chí chuyện chịch nhau cũng phải có ăn: ăn nằm.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm, phát triển | Thẻ , , , , , , , ,

Chuyện phải lòng

Chữ “trái tim” dịch ra tiếng Anh là “heart”. Chữ “heart” dịch ngược ra tiếng Việt lại thành chữ “lòng”. Thế mới tài.

Ví dụ “golden heart” dịch ra tiếng ta là “tấm lòng vàng”, “learn by heart” dịch thành “học thuộc lòng”, “from bottom of my heart” thì dịch là “từ tận đáy lòng”, “win someone’s heart” có nghĩa là “được lòng ai đó”. Có rất nhiều ví dụ như vậy, từ trái tim đến cỗ lòng, là một con đường rất vãi.

Nghĩa của chữ “lòng” rất uyển chuyển, có thể diễn đạt mọi sắc thái tâm lý tình cảm, từ ruột non đến ruột già, ra cả đến hậu môn.

Ai đó dễ bị người khác thuyết phục, gọi là “dễ mềm lòng”. Những người lý trí mạnh, khó thuyết phục, gọi là “cứng lòng”. Ủy mị một chút là “dễ động lòng”. Không chân thành với tình cảm của chính mình là “dối lòng”. Tình cảm đổi thay đích thị “thay lòng”.

Cởi mở tâm sự của mình với ai đó gọi là “mở lòng”. Đồng ý với ai đó gọi là “bằng lòng”. Rủ nhau cùng làm gì đó thì phải “đồng lòng” mới xong.

Gặp ai đó mà thích ngay, gọi là “phải lòng”. Chưa ngỏ được lời thì cứ thấy “rối ở trong lòng”. Thế rồi “xao xuyến mãi ở trong lòng” đến lúc cũng phải “tỏ lòng” mình ra. Đến khi yêu rồi, yêu thì ở trong tim, mà diễn đạt thành lời, gọi là “đem lòng yêu nhau”. Xa nhau thì nhớ “nao lòng”. Lúc nào cũng thấy “nóng lòng” gặp nhau. Để lâu thì nhớ “cháy lòng”. Gặp nhau một phát áp lòng vào nhau, xong xuôi nằm thở, “dốc lòng” với nhau. Rồi mới mặc quần áo chia tay, bịn rịn như “nát cả cõi lòng” đến nơi.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ ,

Kể những chuyện tình

Cả bốn chuyện tình (ba tình yêu, một tình bạn) dưới đây đều được dịch bằng google translate từ Anh sang Việt (và edit qua loa bằng tay).

*

Chuyện thứ nhất

b8651dd7041641520cabe3b9f10dd1bf

Họ gặp nhau trên phố Paris. Anh lẽo đẽo theo nàng tới chỗ làm.

Sau này anh kể, đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Bấy giờ là năm 1893 và anh chỉ là một họa sĩ hậu ấn tượng non nớt mới được biết đến với những khung hình âu yếm và riêng tư.

Tên nàng là Marthe. Lúc đầu nàng nói dối anh cả tên lẫn tuổi. Nàng yếm thế, ưa lánh đời, và bị một căn bệnh buộc nàng phải tắm suốt ngày.

Vẻ lặng lẽ né tránh cuộc đời của nàng trở thành chủ đề trong tranh của anh suốt nửa thế kỷ, kể từ lúc họ quen nhau.

Anh là họa sĩ Pháp Pierre Bonnard.

Anh vẽ nàng, chủ yếu bằng ký ức, và bằng những bức ảnh chụp nàng lúc riêng tư. Trong tranh anh, nàng không bao giờ già đi. Anh vẽ nàng trong buồng tắm, trong buồng ngủ, và trong vườn. Anh vẽ nàng ngập tràn trong ánh sáng vàng son êm ả và màu sắc rực rỡ của cầu vồng.

Anh tan nát cõi lòng khi nàng chết, năm 1942. Trong thư gửi bạn mình là Henri Matisse, anh viết : “Anh có thể tưởng tượng được nỗi tiếc thương và sự cô đơn của tôi, chất chồng vị đắng và nỗi đau của cuộc đời mà tôi từ nay phải sống.” Tiếp tục đọc

Đăng tải tại gái | Thẻ , , , , , , ,

Nobel Vật Lý 2017: Đang mở ra những thế giới chưa từng thấy!

Năm 1916 nhà bác học Albert Einstein nói ông tin vào sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Năm nay, 101 năm sau phát biểu của Einstein, giải Nobel Vật Lý được trao cho  Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne vì đã phát hiện ra được sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Trong thông báo về giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy điển nói về giải Nobel Vật lý 2017 năm nay: “Đây là một thứ hoàn toàn mới và khác biệt, đang mở ra những thế giới chưa từng thấy.”

(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số tuần này, tức tuần công bố giải Nobel 2017). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).

*

Năm 1916, một nhà vật lý người đức, lúc này đang sĩ quan pháo binh trên mặt trận Nga, tên là Karl Schwarzschild, đã giải các phương trình tensor của Einstein và tìm ra một nghiệm kỳ lạ. Theo nghiệm này, xung các ngôi sao có khối lượng cực lớn có một không quyển kỳ ảo (magical sphere). Tất cả mọi thứ, kể cả ánh sáng, khi đi vào không quyển này sẽ bị hút vào ngôi sao khổng lồ và không có cách nào thoát ra được. Schwarzschild còn tính toán được bán kính của không quyển kỳ ảo này. Bán kính này được gọi là bán kính Schwarzschild  hoặc bán kính hấp dẫn (gravitational radius).

main-qimg-16937fefd7824b98e56b9a657bbb311b-c

Schwarzschild qua đời trên mặt trận Nga và không biết rằng mình đã tìm ra một thứ, về sau được John Wheeler đặt tên: Hố Đen (Black Hole). Không quyển ma quái mà Schwarzschild tìm ra, ngày nay được gọi là Chân trời sự kiện (event hoziron), hàm ý đấy là nơi xa nhất mà  tầm mắt của người quan sát có thể với tới (sau chân trời là hố đen, nơi mà ánh sáng nếu vươn tới sẽ bị nuốt vào và không bao giờ trở lại).

main-qimg-a1f5c6d5455ada34815c84f510aa5877

Cũng năm 1916, Einstein đề xuất sự tồn tại của một sóng gọi là sóng hẫp dẫn, một loại sóng mang lực hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng. Einstein đã tìm thấy sóng trên lý thuyết bằng cách giải các phương trình của mình, cũng như dự báo các ngôi sao đôi quay quanh một trục chung sẽ dần sát lại với nhau để rồi lao vào nhau do năng lượng mất dần do bị bức xạ vào không gian dưới dạng sóng hấp dẫn.

Để biết chi tiết hơn, xem bài Tiếng vọng từ sáng thế.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , ,

Phim Vietnam War, ông Duẩn, ông Nhu, ông Giáp

Thế chiến thứ hai có một trận đánh cực kỳ dài và khốc liệt giữa liên quân phe trục do Phát xít Đức lãnh đạo và quân Liên Xô. Đó là trận Stalingrad. Trận đánh đẫm máu này làm phe Đức chết khoảng gần 1 triệu lính, bên Liên Xô chết khoảng hơn 1 triệu lính.

Nhận xét về phía ý thức hệ của trận đánh này, có người nói đây là trận đánh của phe Hegel cánh hữu (nước Đức theo chủ nghĩa phát xít) đánh nhau với Hegel cánh tả (nước Nga theo chủ nghĩa Stalin).

Đầu những năm 1960, cả ông Nhu và ông Duẩn đều hiểu nếu hai miền thực sự phải đối đầu bằng quân sự chính quy, thì Nam Việt Nam với đường lối cánh hữu nhuốm màu phát xít mới của ông Nhu sẽ phải đánh nhau bằng chiến tranh quy ước với Bắc Việt Nam lúc này đầy chất Stalin. Ông Nhu đi tới thỏa hiệp, bí mật gặp gỡ phe miền bắc để đàm phán, rồi bị Mỹ giật dây lật đổ và sát hại. Có thể xem bài này, search theo từ khóa Lou Conein để biết quá trình Mỹ dựng và lật đổ đệ nhất cộng hòa ở Nam Việt Nam, và nếu có thời gian xem bài này về ông Nhu.

Trong phim Vietnam War của Ken Burns, khoảng tập 5, sẽ thấy thời kỳ trước khi Diệm và Nhu bị lật đổ, ông Duẩn và quân đội của ông đã rất tin vào thành công của việc thống nhất hai miền bằng vũ trang trong tương lai rất gần. Điều này rất hiện thực, và có thể đó là lý do chính để ông Nhu bí mật đàm phán với miền bắc.

Tiếp theo, phim Vietnam War cho thấy cái chết của Diệm-Nhu, rồi cái chết của Kennedy, dẫn đến việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965 (Diệm chống Mỹ đưa quân vào, Kennedy thì không mặn mà việc đưa quân sang, sau khi hai vị tổng thống này bị sát hại, Johnson đưa quân đến Việt Nam). Việc quân Mỹ vào Việt Nam đã làm đảo lộn kế hoạch của ông Duẩn. Trước một bàn cờ thế hoàn toàn mới, ông Duẩn đã buộc phải chơi những nước cờ hoàn toàn khác.

Trong tập 6, 7 và 8 của Vietnam War, những trận đánh của Lê Duẩn, mà đỉnh điểm là trận Mậu Thân và các trận tiểu Mậu Thân sau đó, đã dẫn đến hiệp định Paris. Những diễn biến này và tác động của nó đến Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, trừ trận Quảng Trị, được nói khá rõ trong phim. Có vẻ như nhìn từ phía Mỹ, trận Quảng Trị không liên quan nhiều đến đàm phán Paris, thay vào đó họ đề cao giá trị vụ dùng B-52 ném bom Hà Nội Noel 1972 nhiều hơn. Họ cho rằng nhờ vụ ném bom tàn khốc này mà phía Bắc Việt Nam quay lại ký hiệp định. (Phía Việt Nam lại cho rằng nhờ đánh Quảng Trị mà Mỹ xuống thang).

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phim, sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , ,

Màu rực rỡ của Lũng Luông

Cách nay hơn năm, đợt đó chuẩn bị khai trương công trình trường Lũng Luông, tôi cũng tham gia đoàn của Cơm Có Thịt đi lên Lũng Luông để “nghiệm thu” công trình. Lúc đó ảnh chụp ngôi trường này đã có trên youtube. Trước khi đi, bạn bè bảo: anh lên xem sao cái trường cho tiểu học mà làm màu lòe loẹt như mẫu giáo, lại còn làm ở mái.

Trường Lũng Luông nằm ở đỉnh một ngọn núi nhỏ. Chỗ đấy giống như đỉnh một quả đồi, khá bằng phẳng, tròn trịa. Từ trường có một vài đường mòn nhỏ tỏa ra thung lũng xung quanh, rồi ngược lên các triền núi bên cạnh. Học sinh đi theo các đường mòn đó đến trường. Leo theo các đường mòn đó, thi thoảng đứng lại, có thể nhìn xuống trường. Từ xa, và trên cao, có thể nhìn rõ cái mái trường “lòe loẹt” ấy.

Hôm đó trời mưa, anh Hào, là cái anh kiến trúc sư xây cái trường này, cứ cầm ô đi che cho thằng con trai tôi, mới 5 tuổi, hì hụi lội bùn đi theo các bác. Tôi hỏi anh Hào, sao anh làm cái mái màu sắc rực rỡ thế. Anh Hào bảo: Lúc xây trường này, mấy tháng liền mùa đông và mùa mưa phùn, cảnh vật ảm đạm lắm em ạ, anh quyết định làm cái mái như thế, nó như đốm lửa nhỏ giữa cảnh núi rừng mùa đông rét mướt.

Cái mái trường này, không phải sơn xanh phết đỏ lên tôn, mà là cái tôn tự nó có màu như thế. Theo như tôi hiểu thì tôn này là do bên Hoa Sen tài trợ, họ làm tôn và gửi từ nam ra cho anh Hào.

*

Dự án Lũng Luông tôi cho là một sự “tình cờ”. Hồi đó anh Châu nhận làm chủ tịch danh dự quỹ Cơm Có Thịt. Quỹ tổ chức một chuyến đi, có ba đoàn khác nhau cùng đi. Tôi bám càng đoàn của anh Châu và anh Vũ Hà Văn. Gọi là đoàn giáo sư. Hai đoàn còn lại một đoàn của anh Tuấn, và một đoàn lên tới Lũng Luông tôi mới biết là đoàn của cô Phượng. Cô Phượng tôi nhớ hôm đó không giống như trong ảnh hehehe, vì cô ăn mặc như sinh viên mới ra trường, đại khái quần cộc áo bỏ ngoài quần, đi giày thể thao, đội mũ, nhảy phắt một phát từ trên xe ô tô xuống đường.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đạo, đời | Thẻ

Khinh khí, nhiệt hạch

Hôm nay twitter tràn ngập tin Bắc Hàn thử thành công bom H.

Hôm nay Nhật Bản, Trung Quốc phát hiện (detect) được 2 cơn địa chấn nhân tạo (artificial earthquake) ở Bắc Hàn. Hai đợt động đất này cách nhau 8 phút. Cơn địa chấn thứ nhất có độ mạnh cấp độ 6.3 (6.3 magnitude).

Thế giới đã bỏ đơn vị đo (thứ nguyên) động đất cũ là Richter (đặt theo tên Charles F. Richter, người phát triển hệ đo sức mạnh của động đất này vào năm 1934). Hệ đo Richter (Richter Scale) không thể hiện chính xác độ mạnh của các cơn động đất lớn nên người ta nghĩ ra hệ đo động đất mà hiện nay thế giới đang sử dụng: Moment Magnitude Scale. Chữ cấp độ (magnitude) một thuật ngữ đã được dùng trong thiên văn học.

Cấp độ được tính theo logarith cơ số 10. Nghĩa là cứ tăng 1 cấp độ của thang đo, thì cường độ rung chấn mặt đất cao lên 10 lần. Tờ Wall Street Journal nói cơn địa chấn (động đất) nhân tạo ở Bắc Hàn hôm nay là Cấp độ 6.3, mạnh gấp 10 lần cơn địa chấn năm ngoái có Cấp độ 5.3 cũng do Bắc Hàn thử vũ khí hạt nhân.

Hạt Nhân, hay trước đây còn dịch là Hạch Tâm (Hạch = hạt, Tâm = nhân), là từ chữ Nuclear.

Vũ khí hạt nhân sử dụng năng lượng do các phản ứng liên quan đến hạt nhân của nguyên tử.

Lúc đầu công nghệ kém, người ta dùng năng lượng phân hạch (nuclear fission), tức là một hạt nhân nặng (nucleus of an atom ) phân chia (split) ra thành các hạt nhân nhẹ hơn, quá trình phân hạch này tạo ra năng lượng rất lớn. Quả bom ném xuống Nhật là bom phân hạch, vì thế gọi là bom A (A-bomb). A là viết tắt chữ Atom, tức là nguyên tử.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ , , , , , , ,

Cách chúng ta mưu sự hành động và lối sống

Thành ngữ phương tây có câu “Man proposes, God disposes”, vốn được dịch từ chữ latin “Homo proponit, sed Deus disponit”, hay được dịch qua tiếng ta là “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Năm 1927, có một hội nghị về cơ học lượng tử ở Solvay. Đây là hội nghị vật lý có thể nói là quan trọng nhất cho đến nay, nó tụ họp các bộ óc lớn nhất mọi thời đại, từ Marie Curie, Einstein … đến nhóm các nhà vật lý trẻ đang ở độ tuổi hai mươi, và nhiều người trong nhóm trẻ này đoạt giải Nobel chỉ vài năm sau đó.

Bên lề hội nghị, các chàng trai trẻ này thảo luận với nhau về nhiều chuyện. Và đột nhiên họ rơi vào đề tài tôn giáo và khoa học.

Heisenberg, lúc này đã trở thành cha đẻ của cơ học lượng tử hiện đại, dù mới hăm sáu tuổi, nằm ở phe bảo vệ quan điểm bất-mâu-thuẫn của Max Planck và Einstein về tôn giáo và khoa học. Các diễn giải và lập luận của Heisenberg rất thuyết phục, dù rằng sau đó anh bị Dirac phản đối khá gay gắt. Một vài ý tóm tắt như sau.

Khoa học làm việc [deal] với thế giới vật chất và khách quan. Tôn giáo làm việc với thế giới của các giá trị [world of values].

Tôn giáo xem xét cái gì [what] cần phải tồn tại [to be], hay cái mà chúng ta cần phải làm, chứ không xem xét (về khách quan) cái gì đó (thực sự) là gì [what is].

Trong khoa học chúng ta quan tâm đến việc phát hiện [discover] cái gì là đúng [true], cái gì là sai [false]; còn trong tôn giáo chúng ta quan tâm đến cái gì là thiện [good] cái gì là ác [evil], cái gì là cao quý [noble] và cái gì là tầm thường [base].

Khoa học là nền tảng của công nghệ. Tôn giáo là nền tảng của luân thường đạo lý [ethics].

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , ,