Cách chúng ta mưu sự hành động và lối sống

Thành ngữ phương tây có câu “Man proposes, God disposes”, vốn được dịch từ chữ latin “Homo proponit, sed Deus disponit”, hay được dịch qua tiếng ta là “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Năm 1927, có một hội nghị về cơ học lượng tử ở Solvay. Đây là hội nghị vật lý có thể nói là quan trọng nhất cho đến nay, nó tụ họp các bộ óc lớn nhất mọi thời đại, từ Marie Curie, Einstein … đến nhóm các nhà vật lý trẻ đang ở độ tuổi hai mươi, và nhiều người trong nhóm trẻ này đoạt giải Nobel chỉ vài năm sau đó.

Bên lề hội nghị, các chàng trai trẻ này thảo luận với nhau về nhiều chuyện. Và đột nhiên họ rơi vào đề tài tôn giáo và khoa học.

Heisenberg, lúc này đã trở thành cha đẻ của cơ học lượng tử hiện đại, dù mới hăm sáu tuổi, nằm ở phe bảo vệ quan điểm bất-mâu-thuẫn của Max Planck và Einstein về tôn giáo và khoa học. Các diễn giải và lập luận của Heisenberg rất thuyết phục, dù rằng sau đó anh bị Dirac phản đối khá gay gắt. Một vài ý tóm tắt như sau.

Khoa học làm việc [deal] với thế giới vật chất và khách quan. Tôn giáo làm việc với thế giới của các giá trị [world of values].

Tôn giáo xem xét cái gì [what] cần phải tồn tại [to be], hay cái mà chúng ta cần phải làm, chứ không xem xét (về khách quan) cái gì đó (thực sự) là gì [what is].

Trong khoa học chúng ta quan tâm đến việc phát hiện [discover] cái gì là đúng [true], cái gì là sai [false]; còn trong tôn giáo chúng ta quan tâm đến cái gì là thiện [good] cái gì là ác [evil], cái gì là cao quý [noble] và cái gì là tầm thường [base].

Khoa học là nền tảng của công nghệ. Tôn giáo là nền tảng của luân thường đạo lý [ethics].

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , ,

Người làm toán, người làm lý, người làm tình (16+)

Người đàn ông làm toán khác người đàn ông không làm toán thế nào?

Khác ở chỗ “lên đỉnh”!

Đàn ông không làm toán, đỉnh là climax. Đàn ông làm toán, đỉnh là vertex.

Thế người làm vật lý làm gì?

Điệp viên đa mang Phạm Xuân Ẩn lúc còn trẻ hay nói đùa: “Tôi là giáo sư tình dục học.” Tuy nhiên đến nay món khoa học độc đáo này vẫn bó tay không giải thích được hiện tượng multi-orgasm ở một số ít phụ nữ.

Không chấp nhận một hiện tượng siêu nhiên mà chỉ vài phụ nữ có, các nhà vật lý lý thuyết (thuyết dây) đề ra một thế giới multiverse (multi-universe hay meta-universe: đa vũ trụ). Trong cái thế giới đa vũ trụ ấy ấy, không chỉ có một “ta” mà có rất nhiều “ta” song song tồn tại. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Uncategorized

Toán và Lý

Mới đây anh Ngô Bảo Châu có bài phát biểu ngắn trong buổi lễ “kết nạp” anh vào đội thiếu niên tiền phong thuộc Viện hàn lâm Pháp.

Bài phát biểu này có tên “Số và Hình”.

Trong bài phát biểu, anh Châu nhiều lần nhắc đến Riemann và Poincaré.

Và nhắc rất ít đến vật lý. Nói đúng hơn anh nhắc đến thuyết hấp dẫn một lần ở giữa bài và cơ học cổ điển một lần vào cuối bài. Thế nhưng với hai tên tuổi lớn ở trên, ta có thể thấy câu hỏi “Vật lý hay Toán học” quay trở lại.

#

Poincaré là nhà toán học Pháp. Chết năm 1912. Ông có nhiều đóng góp lớn và có tính nền tảng vào toán vật lý. Trong đó có đóng góp vào nghiên cứu biến đổi Lorentz, phương trình Maxwell. Đây là các nền tảng toán học rất quan trọng để năm 1905 Einstein đưa ra Thuyết tương đối hẹp.

Riemann còn đồ cổ hơn. Nhưng đóng góp của ông về sau lại nằm trong vật lý hiện đại: góp phần khai sinh ra vũ trụ học.

Riemann chết năm 1866. Rất lâu sau khi Riemann qua đời, Einstein, lúc này đã rất nổi tiếng với thuyết tương đối hẹp, bước vào hành trình 10 năm vật lộn với toán học, từ năm 1905 tới năm 1915, để tìm ra Thuyết tương đối tổng quát.

Thuyết tương đối tổng quát về cơ bản là một lý thuyết vật lý về trường hấp dẫn trong không gian hình học bốn chiều. Và hình học rất khó nhằn đó là hình học Riemann.

#

Khám phá vĩ đại của Einstein, không đơn giản là một cuộc vật lộn thầm lặng để giải toán. Đó còn là một cuộc chạy đua căng thẳng của Einstein để cạnh tranh hết sức gay gắt với một nhà hình học giỏi nhất hồi bấy giờ là Hilbert.

Trong giai đoạn cuối của cuộc đua, Einstein căng thẳng (vì sợ thua) đến mức tuần nào cũng công bố các phương trình và nghiệm phương trình khác nhau (và lần nào cũng sai). Nhưng lần cuối cùng thì ông tìm ra phương trình đúng. Chiến thắng thuộc về Einsten. Chiến thắng đó giờ ai cũng biết tên: Thuyết tương đối tổng quát. Đây là thuyết khai sinh ra ngành vũ trụ học. (Còn cái phương trình thần thánh ấy thì ngắn tũn). Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , , ,

Giúp Google Translate học dịch tiếng Việt

Mọi người đọc xong, cố gắng giúp Google Translate/Google Brain học tiếng Việt nhé. Mỗi khi rảnh, chịu khó vào giúp “nó” học một tí tiếng Việt. Để sau này, nếu cần đọc tài liệu từ một thứ tiếng mình không biết (Hebrew, Aramaic, Hy Lạp, Latin, Đức, Nga, Nhật, Thổ ..) thì Google sẽ giúp ngược lại mình.

*

Cuối năm ngoái, tờ New York Times có đăng một bài rất dài về việc Google đã đưa AI (Trí tuệ nhân tạo) vào Googe Translate. Bài báo có tên rất hấp dẫn: The Great A.I. Awakening. Link bài báo ở đây.

Ngay đầu bài báo, tác giả đã làm một phát rất ấn tượng. Tác giả kể việc một giáo sư Nhật, ông Rekimoto, vào tháng 11 năm ngoái, đã thử dùng Google Translate để dịch một đoạn văn trong The Great Gatsby ra tiếng Nhật. Rồi so với hai bản dịch cuốn sách này ở Nhật: một bản của Takashi Nozaki năm 1957 và bản dịch của Haruki Murakami (bác này thì cực nổi ở VN rồi). Kết quả là bản dịch của Google tuy không được là “tiếng Nhật bóng bảy” như của Murakami, nhưng lại “rõ ràng hơn”.

Ông giáo sư này còn dịch một đoạn trong The snow of Kilimanjaro (Hemingway) ra tiếng Nhật, rồi nhập đoạn tiếng Nhật vào và bắt Google dịch ngược ra tiếng Anh. Rồi so sánh với bản gốc. Kết quả rất ấn tượng. Thậm chí 24 giờ sau, bản dịch tự nhiên tốt hơn nữa.

Bài báo tiếp tục, giới thiệu khái quát, nhưng cũng khá đầy đủ thông tin về trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning), học sâu (deep learning), mạng nơ-ron (neural network) và cuối cùng là một phần rất dài về Language Machine.

***

Trong bài báo rất dài này, có một đoạn khá dài và ấn tượng về một người Việt tên là Quoc Le (bài báo còn nói rõ là gốc Huế).

Với tiếng Việt, Google Translate sử dụng trí tuệ nhân tạo mới được sử dụng từ tháng 3 vừa rồi. Thế mà nó đã học và dịch rất giỏi. Tôi đã dùng nó để dịch một đoạn trong cuốn Quantum Physics của Leonard Susskind. Kết quả tạm ổn, tôi chỉ phải sửa có 3 từ, mà nó đã trở nên khá tốt. Đoạn dịch ấy, tôi copy cuối bài này.

Tôi đã nhờ người giới thiệu với Quoc Le, để hỏi xem cộng đồng có giúp gì được cho Google Translate không. Dưới đây là đoạn email bạn tôi nói về Quoc Le, và nội dung email mà Quoc viết về giá trị mà sự giúp đỡ của cộng đồng có thể đem lại.

***

Đây là email giới thiệu về Quốc.

Hi anh 5xu,

Giới thiệu với anh anh Quốc là người mà anh nhắc đến trong email. Anh Quốc là một trong những khoa học gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và học máy. Ảnh cũng là một trong những cánh chim đầu đàn của Google Brain, đơn vị chịu trách nhiệm về trí tuệ nhân tạo cho Google. Nhưng quan trọng hơn hết anh Quốc là một hậu vệ thép trong đội bóng của tụi em 🙂

Còn đây là email của Quốc :

V việc giúp Google Translate tt hơn, theo em thì cng đồng có th giúp hai việc: Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ , , , ,

Bầu trời chiều ẩn giấu

Mời các bạn download (miễn phí) cuốn sách Bầu trời chiều ẩn giấu  về đọc giải trí những ngày tháng Giêng.

Link để download sách, bản ebook định dạng pdf đọc trên thiết bị di động ở đây, hoặc ở đây.

Còn ở đây (hoặc ở đây) là bản để in (file lớn hơn).

Bu tri chiu n giu là là một cuốn ebook rất nhỏ, chỉ có 6 chương, gói gọn trong 52 trang sách. Sách viết kiểu diễn nôm về các định luật vật lý quan trọng. Hình thức diễn đạt theo kiểu kể chuyện về hành trình và nỗ lực của con người đi khám phá thế giới tự nhiên. Thế giới tự nhiên ấy bắt đầu từ Big Bang cho đến ngày hôm nay, và ngày mai. Thế giới ấy có cả vũ trụ bao la, và cả những hạt hạ nguyên tử bé tí.

Bốn chương đầu của cuốn sách nói về lịch sử hình thành khoa học tự nhiên và các phát minh quan trọng của vật lý, bắt đầu từ Thales của Hy lạp cổ đại, kết thúc bằng Edward Witten với M-Theory cuối thế kỷ 20. Phần này chỉ có 34 trang.

Hai chương sau là về các sáng chế công nghệ để phục vụ cuộc sống và khám phá không gian.

Phn 1

Chương 1: Từ Địa tâm đến Nhật tâm

Chương 2: Từ Tất định đến bất định và hành trình đi tìm sự khởi đầu của vũ trụ

Phn 2

Chương 3: Tiếng vọng từ Sáng Thế

Chương 4: Bầu trời chiều ẩn giấu

Phn 3 Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Lượng tử hóa tình yêu (18+)

(Ba chuyện đầu là các chuyện sưu tầm và cải biên.)

1.

Toán rất khó, cứ 5 người dân thì có tới 6 người dốt toán. Tôi là một ngoại lệ.

2.

Anh không thể tìm ra lời nào để tả được vẻ đẹp của em.

Cám ơn anh.

Nhưng anh có thể làm việc ấy bằng con số: 3/10.

3.

Mày thích bọn con gái mặc xi líp màu gì.

Đừng có hỏi tao những câu ngu dốt ấy.

Thế mày có biết tại sao photon không có khối lượng, mà lại có năng lượng, dù E=mc2.

Ok, trừ màu cháo lòng, màu nào tao cũng thích, được chưa.

 

4. Hai cái Tết

Mấy năm gần đây mọi người hay đòi bỏ tết Ta (chắc gốc từ Tàu) và ăn tết Tây (chắc gốc từ Tây). Tết ta nghe có vẻ lâu đời, nhưng chưa chắc đã cổ bằng tết Tây.

Hai đoạn dưới đây trích từ cuốn sách khoa học phổ thông “Bầu trời chiều ẩn giấu”.

Vùng đất nằm giữa sông Tigris và Euphrates có tên gọi trong tiếng Hy Lạp là Mesopotamia, nghĩa là Lưỡng Hà (nằm giữa hai con sông). Trên vùng đất ấy cách đây khoảng 5000 năm có người Babylon và Assyria sinh sống. Bằng mắt thường, họ quan sát và nhận ra quy luật chuyển động của bảy “hành tinh”. Người Babilon và Assyria dùng tên của bảy hành tinh để đặt tên cho cho bảy ngày.

Đến nay những cái tên ấy vẫn còn dấu vết trong những ngôn ngữ như Anh, Pháp và Ý.  Chủ nhật là Mặt Trời (Sun, Sunday), Thứ hai là Mặt Trăng (Mon, Monday), Thứ ba là Sao Hỏa (Mars, Mardi),  Thứ 4 là Sao Thủy (Mercury, Mercredi), thứ năm là là Sao Mộc (Jupiter, Jeudi), thứ sáu là Sao Kim (Venus, Vendredi), thứ bảy là Sao Thổ (Saturn, Saturday).

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , ,

Tiếng vọng từ Sáng Thế

Năm 1915, Einstein đề xuất Thuyết tương đối rộng mô tả mộ vũ trụ mà trong đó hai khái niệm trừu tượng và vô hình là  không gianthời gian đã bị lực hấp dẫn “sử dụng” để tác động đến sự vận hành của cả vũ trụ. Năm 1916,  Einstein dự đoán bằng mô hình toán học cách thức mà lực hấp dẫn tác động đến không gian và thời gian: Sóng hấp dẫn. Cũng năm 1916, một sĩ quan pháo binh 42 tuổi tên là Karl Schwarzschild giữa những trận chiến đấu trên đất Nga đã giải phương trình của Einstein và tìm thấy một nghiệm (Schwarzschild radius /gravitational radius). Nghiệm này về sau được John Wheeler gọi là “hố đen”. Tháng 2 năm nay, đúng 100 năm sau khi Einstein tiên đoán về sóng hấp dẫn, trạm quan trắc LIGO của Hoa Kỳ lần đầu tiên dò tìm được sóng hấp dẫn của vũ trụ.

(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).

*

Năm 1543, khi biết mình sắp qua đời, Nicolaus Copernicus đã liều mạng xuất bản tác phẩm Về chuyển động quay của các thiên thể. Năm 1616, Giáo hội Công giáo La Mã đưa công trình này của Copernicus vào danh mục sách cấm.

Công trình của Copernicus, một nhà toán học và thiên văn học, đã xây một mô hình vũ trụ trong đó có tâm là Mặt Trời, một mô hình toàn toàn đối lập với Vũ Trụ có tâm là Trái Đất, vốn tồn tại cả ngàn năm như một nền tảng vững chắc trong vũ trụ quan Kitô và cũng là nền tảng khoa học của loài người cho đến lúc đó.

Mặc dù ý tưởng về một vũ trụ trong đó có tâm là mặt trời còn trái đất xoay vòng quanh nó (thuyết nhật tâm) đã được Aristarchus đảo Samo (310 – 230 trước Công nguyên) đưa ra từ rất sớm. Nhưng ý tưởng này bị thuyết địa tâm của Aristotle và Ptolemy phủ nhận.

*

Claudius Polemaeus, tức Ptolemy, một nhà thiên văn học làm việc tại thư viện Alexandria danh tiếng hồi thế kỷ thứ 2 đã xây dựng một lý thuyết giải thích vũ trụ trong đó trái đất có hình cầu, còn mặt trời và các thiên thể khác như mặt trăng và các vì sao sẽ quay vòng quanh trái đất. Trong mô hình vũ trụ của Ptolemy, mỗi thiên thể được gắn trên một thiên cầu bằng pha lê. Mỗi thiên cầu ấy là một tầng trời. Có bảy tầng trời như vậy. Bảy tầng trời ứng với bảy hành tinh mà con người bằng mắt trần quan sát được chuyển động của chúng (mặt trăng, mặt trời, Sao Kim, Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ). Tầng trời thứ tám ứng với tất cả những vì sao còn lại.

Vũ trụ của Ptolemy tồn tại nhiều thế kỷ, cho đến khi công trình bị cấm đoán của Copernicus dần dần được công nhận và trở thành một cuộc cách mạng khoa học.

Gần 50 năm sau Copericus qua đời, công trình của ông đã đến tay một sinh viên thần học thuộc nhánh Tin Lành Kháng Cách, một ý hệ Kitô giáo mới mẻ sinh ra từ sự bất mãn và chán ghét sự giàu có và sa ngã của Giáo hội Kitô La Mã. Người chủng sinh ấy vốn say mê thiên văn học từ tấm bé, khi được chứng kiến Sao Chổi (1577) và Nguyệt Thực (1580). Trong lúc học thần học tại đại học Tübingen  anh được tiếp cận cả thuyết địa tâm của Ptolemy lẫn thuyết nhật tâm bị cấm đoán của Copernicus.

Thế rồi như nhận ra con đường của mình là phải phục vụ Thiên Chúa theo một cách rất khác, anh bỏ dở con đường trở thành mục sư để xin một chân giáo viên dạy toán trong một trường trung học Tin Lành ở Graz.  Tên người thanh niên ấy là Johannes Kepler.

Thầy giáo toán Kepler vừa mặc cảm tội lỗi, một tội lỗi thần thánh, vì đã tin vào thuyết Nhật tâm, lại vừa cho rằng định mệnh của mình là phải chứng minh cái thuyết đầy báng bổ ấy là đúng. Nhờ tiền tài trợ từ các mạnh thường quân khoa học, thường là các vị quý tộc giàu có, Kepler xây dựng các mô hình thực nghiệm. Nhưng đều thất bại. Cuối cùng, nhờ tài năng toán học ngày càng nổi tiếng của mình, Kepler tiếp cận được nhà toán học của Đế Chế La Mã Thần Thánh, nhà thiên văn học Tycho Brahe.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Và đây là Elon Musk

Sau bài diễn thuyết tại Hội nghị vũ trụ quốc tế ở Mexico cuối tháng 9 vừa qua, người sáng lập công ty vũ trụ SpaceX, tỷ phú Elon Musk đã tham gia mục hỏi đáp Ask Me Anything trên diễn đàn Reddit. Elon Musk đã nói về cách Hệ thống vận tải liên hành tinh (Interplanetary Transport System) hoạt động và cách mà các robot công nghiệp sẽ xây một nhà kính khổng lồ để trồng cây trên bề mặt Sao Hỏa. Đây là những bước đi quan trọng trong tham vọng của Elon Musk: biến Sao Hỏa thành thuộc địa của loài người.

Đạo diễn của Iron Man, Jon Favreau cho biết anh và diễn viên Robert Downey Jr. đã gặp Elon Musk và sau đó đưa nhiều tính cách của Musk vào nhân vật Iron Man – Tony Stark. Elon Musk cũng cameo trong phần 2 và 3 của bộ phim này.

(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).

*

Năm 1880, xưởng sản xuất Edison Lamp Works bắt đầu sản xuất bóng đèn. Một năm sau, xưởng này có pháp nhân chính thức với tên Edison Electric Lamp Company. Cùng năm này, xưởng sản xuất Edison Machine Works bắt đầu sản xuất dynamo (bộ phát điện một chiều) và mô tơ điện để sử dụng cho các hệ thống do Thomas Edison sáng chế. Lúc này Thomas Edison mới 34 tuổi.

Trong vài năm tiếp theo, tài phiệt phố Wall bắt đầu đổ tiền vào các doanh nghiệp của Edison. Edison Machine Works sáp nhập một loạt các công ty của Edison, bao gồm Edison Electric Lamp Company (công ty sở hữu các bằng sáng chế đèn điện của Edison) và một công ty đầu tư tài chính do J.P.Morgan hậu thuẫn (công ty này vốn đã đầu tư vào các nghiên cứu của Edison và cộng sự).  Sau sáp nhập, công ty mới có tên Edison General Electric Company.

Hơn 10 năm sau, năm 1896, công ty này IPO và là một trong 12 công ty đầu tiên tạo nên chỉ số Dow Jones công nghiệp (DJIA). Công ty ở trên sàn chứng khoán suốt 120 năm, từ năm 1896 đến nay, và chính là tập đoàn General Electric (GE). Các lĩnh vực mà GE tham gia trải rộng từ đồ điện tử gia dụng, đến phần mềm, năng lượng, dầu khí, hàng không và vũ khí. Doanh thu năm 2015 của tập đoàn GE là 140 tỷ dollar Mỹ.

*

Rất nhiều thế hệ thanh niên lớn lên ở miền bắc ngày trước rất quen thuộc với nhà sáng chế vĩ đại người Mỹ Tô-mát Ê- đi-sơn (Thomas Edison) qua một cuốn sách cùng tên. Cuốn sách ấy mô tả Edison như một cậu bé nhà nghèo, phải thôi học để đi làm từ khi còn là thiếu niên. Sau này ông phát minh ra nhiều thứ kì diệu, từ điện báo, đèn điện đến máy hát, máy quay phim, tàu điện. Tất cả là để phục vụ cuộc sống con người, đặc biệt  là người lao động.

Cuốn sách không hề mô tả  Edison như một nhà công nghiệp có tầm nhìn, một doanh nhân khôn ngoan, một doanh chủ start-up cứng đầu, sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao nhất. Mà đấy mới là những phẩm chất để Edison làm nên những kỳ tích của mình, và qua đó làm thay đổi cuộc sống không chỉ người dân Mỹ mà cả nhân loại.

Henry Ford, người đã thay đổi diện mạo không chỉ ngành xe hơi, mà cả nền công nghiệp Hoa Kỳ, đã có may mắn làm việc cùng, rồi trở thành người bạn lâu năm của Edison. Năm 1930 Henry Ford xuất bản cuốn sách Edison as I know him (bản tiếng Việt của Alpha Books có tên Edison như tôi biết). Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách, sống | Thẻ , , , , , , , , , , ,

Bob Dylan và Chim én

Bài viết cho TTCT số tuần này.

Hà Nội, thời Pháp thuộc, có những người hát xẩm bị mù, đi hát rong trên tàu điện. Trong Hà Nội thanh lịch, Hoàng Đạo Thúy có kể về một người hát xẩm đã hát rong những lời ca có nội dung cách mạng. Mật thám Pháp bắt, đánh, hỏi ai là người dạy hát. Người hát xẩm mù không nhìn thấy ai đã dạy hát cho mình.

*

Cuối tháng 7 năm 1979, giữa mùa hè khó khăn nhất của đất nước sau chiến tranh, tờ Tuổi Trẻ đi loạt bài về phân bón: “Vì mục tiêu 1.000.000 tấn phân cho ngoại thành” và “Hai lần đạt danh hiệu kiện tướng làm phân”.

Cũng trong số báo này, mục  Thường thức nghệ thuật có chuyên đề Về ca khúc chính trị. Trong đó có phóng sự “Liên hoan ca khúc chính trị lần thứ 9 tại Berlin (CHDC Đức)” và nhạc và lời một bài hát viết về liệt sĩ Lê Đình Chinh mới hy sinh vài tháng trước đó trong một trận đụng độ không chính thức với quân xâm lược Trung Quốc.

Khi nói về nguồn gốc và ảnh hưởng của các nghệ sĩ thế giới đến ca khúc chính trị Việt Nam, báo nhắc đến Bốp Dylan (Bob Dylan).  Bob Dylan, trong giai đoạn bùng nổ rực rỡ của Ca khúc chính trị Việt Nam ấy, luôn được nhắc đến như một ngôi sao nhạc Rốc Dân Ca (folk rock) người Mỹ.

* Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhạc, đời | Thẻ , ,

Chữ Phúc

Bài này viết cho mục Phiếm Đàm của TTCT. Bài đã đăng tuần này.

*

Cuối hè năm ngoái ở L’Espace Hà Nội buổi nói chuyện khá đặc biệt. Hai diễn giả là hai nhà toán học đoạt giải Fields: Ngô Bảo Châu và  Cédric Villani.

Có một khán giả hỏi hai nhà toán học, một câu hỏi khá bình thường, nhưng dường như trong câu hỏi ấy có cả sự tự vấn. Khán giả ấy là một người đàn ông đứng tuổi. Anh cho biết mình vốn là dân chuyên toán. Khi trưởng thành và có gia đình, anh và các bạn anh đều nhận thấy dường như kiến thức toán mà mình học trong nhà trường gần như không được vận dụng mấy trong cuộc đời. Anh và bạn bè, bắt đầu trăn trở, rằng mình có nên bắt con cái, và bắt cả nền giáo dục hiện tại, bỏ những môn học ít có ứng dụng trong cuộc sống thường ngày như môn toán để học những môn mà cha mẹ thấy có ích hơn.

Anh Châu không trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Phần trả lời của anh có một ý: cha mẹ thường mong con cái phải hơn mình, học hành rộng hơn, hiểu biết hơn, đi đến những chân trời xa hơn trong cuộc sống; nhưng cũng chính bố mẹ ấy lại chỉ muốn ép con cái học hành theo ý mình. Anh Cédric gật gù với ý này và chia sẻ thêm chuyện học hành và lựa chọn lối đi của các con anh.

Ở một khía cạnh khác, về sở thích học tập của trẻ em, anh Châu cũng có lần nhận xét: nhiều cha mẹ cả đời không nghe nhạc nhưng cứ cố ép con phải học dương cầm [dù bọn trẻ không thích học].

*

Tôi có một người anh ở Hà Nội, hai vợ chồng kinh doanh buôn bán, đầu tắt mặt tối quanh năm. Có lần anh bảo: “Nhiều nhà rất kỳ lạ, bố mẹ không bao giờ cầm cuốn sách mà cứ bắt con phải đọc sách. Vợ chồng anh có đọc sách đ’o đâu, nhưng từ lúc muốn con đọc sách, tối nào anh cũng kiếm mấy cuốn sách liên quan đến việc kinh doanh của mình ra ngồi đọc nghiêm túc, để thằng cu thấy bố nó đọc sách”.

* Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống | Thẻ ,