Tag Archives: sách

Sách: Các thế giới song song

Bài điểm sách này viết cho TTCT và cũng để hâm nóng lại link Ba Mùa Yêu.

Interstellar của đạo diễn Christopher Nolan là một bộ phim rất thành công DSC05480năm 2014. Phim kể về một người cha chia tay đứa con gái bé nhỏ của mình rồi dùng tàu vũ trụ đi xuyên qua lỗ sâu đục (hay còn gọi là lỗ giun) để đi vào tương lai và tìm cách cứu nhân loại. Bị mắc kẹt ở tương lai, ông tìm mọi cách để gửi thông điệp về cho con gái của mình. Cuối cùng, ông đã thành công nhờ sử dụng sóng hấp dẫn. Một bộ phim khoa học giả tưởng nói về tình cha con nhưng lại rất lý thú với các ý tưởng vật lý cao siêu và kỳ lạ vốn khá khó hiểu với đại chúng.

Sau khi  xem phim, giáo sư vật lý Đàm Thanh Sơn có viết trên blog của mình, rằng cố vấn khoa học của bộ phim là giáo sư vật lý Kip Thorne của Caltech, đồng thời đưa ra bốn bài báo khoa học và khuyến khích mọi người đọc để hiểu thêm các ý tưởng vật lý vũ trụ trong Interstellar.

Với hầu hết bạn đọc bình thường, việc đọc các bài báo khoa học kiểu này sẽ hơi mệt, mất thời gian, và có thể  còn rất chán. Thay vào đó, các bạn có thể tìm đọc một cuốn sách hấp dẫn hơn đã được dịch sang tiếng Việt: Các thế giới song song (Parallel Worlds) của nhà vật lý Michio Kaku.

Trong Các thế giới song song, các tên tuổi vật lý mà giáo sư Sơn nhắc đến trong bài viết của mình như Thorne, Misner, Wheeler sẽ xuất hiện cùng với hầu hết các nhà vật lý vĩ đại khác từ Newton đến Einstein. Cùng với các tên tuổi ấy là các ý tưởng khoa học của họ, được diễn giải một cách ngắn gọn, mạch lạc và tương đối dễ hiểu.

Bởi Các thế giới song song là một cuốn sách rất đặc biệt: một cuốn sách dành cho bạn đọc đại chúng, viết về lịch sử ngành vũ trụ học cùng hai trụ cột của nó là thuyết tương đối và vật lý lượng tử.

Trong những trang đầu tiên của cuốn sách, tác giả và cũng là nhà vật lý vũ trụ Michio Kaku đã dẫn dắt độc giả tiếp cận ngành vật lý vũ trụ bằng hai quan niệm tôn giáo đối nghịch nhau về bản chất của vũ trụ. Một vũ trụ của Ki-tô giáo, có điểm bắt đầu (Sáng Thế). Một vũ trụ Niết-Bàn của Phật Giáo, không có bắt đầu và không có kết thúc. Rồi cũng rất ngắn gọn, ngay trong chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đưa cho bạn đọc một giải pháp bớt bối rối hơn: ngày càng có nhiều chứng cứ để củng cố cho lý thuyết về sự tồn tại của đa vũ trụ: liên tục có những vụ trụ mới “nảy mầm” ra từ những vũ trụ khác, giống như liên tục có Sáng thế trong một Niết bàn vô tận. Một ý tưởng vật lý rất khác với trực quan của một người bình thường, nó bí ẩn và …hấp dẫn.  Như nội dung của bộ phim Interstellar vậy.

Đọc tiếp

Chuyện Bố Già

BOGIA_WEBKhi Tập Cận Bình thịt nốt thượng tướng Quách Bá Hùng, các nhà phân tích bắt đầu soi mói vào điểm yếu dường như bây giờ mới lộ của Tập Béo: không có  nhân lực tiếp quản những khu vực Tập xuống đao lấy mạng đầu lĩnh.

Hơi khập khiễng, nhưng vẫn có lý, Tập kém xa nhân vật Don Michael của The Godfather. Ngay sau khi giết caporegime Tessio, Don Michael sai Lampone lập tức tiếp quản băng của Tessio. Trước đó Michael cho phép Rocco Lampone bí mật lập băng riêng của mình mà chính Tom Hagen cũng không biết. Bố Già Michael hình như còn hơn Tập ở chỗ: “không để một ai biết mình nghĩ gì”.

Bạn đọc có thể thích cuốn tiếu thuyết về thế giới ngầm The Godfather của Mario Puzo, có thể không. Nhưng rất nên đọc cuốn sách này. Đọc nó như đọc như một cuốn sách dạy về quản trị, về chiến lược, về đầu tư, thậm chí cả về đắc nhân tâm nữa.

Trước khi tiến hành cuộc chiến đẫm máu tàn sát tất cả các gia đình mafia khác để thống lĩnh giang hồ, Michael Corleone đã đa dạng hóa đầu tư của mình từ bảo kê và bảo tiêu ở miền đông qua một lĩnh vực rất mới mẻ là casino ở một vùng đất khác là Las Vegas. Khi bắt đầu cuộc chiến, Michael giết luôn đối tác ruột của mình ở Las Vegas là Moe Greene để kiểm soát toàn bộ khoản đầu tư của gia đình. Thậm chí trong phần 3 của loạt phim Godfather, Michael còn nỗ lực cải cách thể chế của gia đình để cập nhật với văn minh nước Mỹ (hợp pháp hóa hoạt động của gia đình mafia này). Không chỉ khống chế chính trị gia, Michael còn tác động được đến cả tòa thánh Vatican. Điều kỳ diệu chỉ có trong tiểu thuyết ấy tất nhiên hoàng đế đỏ Tập Cận Bình không thể làm được.

***

Ông Lê Duẩn từ Nam ra chỉ mất ba năm là cầm chịch miền bắc, đưa các đối thủ chính trị sừng mỏ tưởng như không thể chạm tới đi vào nơi cô quạnh. Thời bao cấp, người ta chế diễu lãnh đạo là “chỉ được cái đi tù nhiều” rồi cứ thế quên đi chi tiết Lê Duẩn là người đi tù lâu nhất. Một người tù Côn Đảo đã từng cưỡi lên đầu được bọn tù hình sự, vượt qua các vụ giết chóc tàn nhẫn trong tù (mà trung tướng Nguyễn Bình từng thoát được với một con mắt chột) thì ngán gì các đối thủ chính trị vốn chỉ biết cầm bút với vẽ bản đồ. Đọc tiếp

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Đọc tiếp

Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry  Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ  “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa  của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở VN và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu. Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của The Quiet American , và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American .

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên rồi làm Phó giám thủ Nha văn khố và Thư viện Đông dương (thự viện trung ương) Hà Nội. Năm 1942 ông vào Huế để  kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế, Giám thủ Văn khố và Thư viện Hành chánh Trung kỳ (Annam). Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội (Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc, những thực chất có lẽ chỉ quản lý Thư viện Trung ương Hà Nội).  Năm 1945  ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu ” “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi – Hội Khai xuân ở Hà Nội”, bản tiếng Việt có thể xem ở đây.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam,  và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian  ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Đọc tiếp

GoRin No Sho

Lời giới thiệu Ngũ Luân Thư

Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến cực kỳ khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15 tháng thứ 9 niên hiệu Keichō (Khánh Trường) thứ 5 (ngày 21 tháng 10 năm 1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi Seikigahara là “tử địa” vì trong trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết. Sekigahara cũng được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.

Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi (Cung Bản Vũ Tàng), bước vào trận chiến Seikigahara với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, là phe rốt cuộc đã thua trận chiến này. Kiếm khách trẻ và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến. Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát. Sau đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Musashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Niten Ichi Ryū (Nhị Thiên Nhất Lưu). Sau này ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).

Người ta vẫn nói: để hiểu được một người Nhật đi ra thế giới bên ngoài để kinh doanh thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh Nhật bước chân vào tử địa Sekigahara.

Để hiểu được việc các quan chức chính phủ hoặc doanh nghiệp Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và tướng quân của mình bị ô nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sĩ đạo.

Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hàng ngày thế nào, các tập đoàn Nhật lập chiến lược kinh doanh ra sao, các chính trị gia Nhật ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm thánh Miyamoto Musashi.

Đọc tiếp

Great Gatsby 3D và những thứ khác

Great Gatsby 3D

Biết nói gì về bộ phim này khi nhân vật chính đã chết y như trong truyện và còn nhân vật phụ hóa ra không được rõ nét.

Lẽ ra trước khi nói về bộ phim ta cần viết dăm điều (thuổng của tây) về cuốn tiểu thuyết. Phải thuổng của tây vì tiểu tuyết Great Gatsby dễ hiểu nhưng có những chỗ lại khá mù mờ. Cho đến bây giờ giới phê bình thượng thặng của tây vẫn còn thắc mắc tại sao nhân vật Nick Carraway (narrator) lại hâm mộ Jay Gatsby đến thế. Thậm chí họ còn hỏi nhau, cho đến tận bây giờ, là tại sao và nghĩa gì cái chữ Great ở trong cái tên Great Gatsby ấy.

Đọc tiếp

Âm lịch Việt Nam và chuyện Mồng –Rằm

Tại sao có ngày Sóc – Vọng, lại có ngày Mồng một – Mồng rằm? Mà không có ngày mồng mười một, mồng mười hai?

Lát sẽ nói.

Tết rồi tôi về nhà, chui vào thư viện tìm cuốn Lịch và Lịch Việt Nam của Hoàng Xuân Hãn, bản in ở Pháp, rất lâu rồi (Tập san xã hội số đặc biệt). Mà tìm mãi không ra. Hồi bé đọc cuốn này chả hiểu gì, đến lúc muốn tìm hiểu lại thì không có sách. Cay thật. Nhân tiện, âm lịch là món cực kỳ phức tạp, bỏ hết mấy cái “phù thủy tính” của âm lịch đi thì nó vẫn rất là khoai, vì nó không phải lịch mặt trăng thuần túy (dựa theo chu kỳ tự nhiên và khách quan của tự nhiên) mà có lai tạp cả với lịch mặt trời (khí hậu và mùa, quỹ đạo elip của quả đất, góc nghiêng mặt phẳng quỹ đạo này nọ, do con người tính toán).

Hồi học cấp 2, tự nhiên có năm mà gia đình các bạn cùng lớp ăn hai cái Tết âm lịch. Các bạn ấy bảo là (chắc do bố mẹ các bạn ấy giải thích thế): nước mình ghét Tàu nên đổi lịch âm, cho khác Tàu, nên cái tết đúng là cái tết theo tàu, cách sau tết ta 1 tháng.

Rồi sau này nghe chuyện Mậu Thân đánh nhau phối hợp sai vì Tết Bắc lệch Tết Nam.

Đọc tiếp

Linh tinh sách

Dưới đây là ba bài ngắn đều là về sách. Bài đầu là từ một status ngắn (từ FB) về cuốn sách đang ở hạng nhì danh mục sách bán chạy Tiki. Hai bài tiếp theo là một bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần và một bài thì ngược lại: phỏng vấn dịch giả Phạm Nguyên Trường cho báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần.

1). Sách của Jun Phạm: Nếu như không thể nói nếu như

Đọc tiếp

Lan man dắt sách qua đường

Các đây mấy hôm, nhân các bác ở trên facebook làm ầm ĩ trong cảnh yên lặng về một vụ ngã ngựa dịch thuật, tôi đã viết một cái note ngắn trên facebook của mình để bênh vực các bạn tư nhân làm công tác xuất bản một chút.

Bài viết ấy, ngoài một số lập luận thuần lý, còn lại là vô số các ý kiến cảm tính của tôi. Cảm tính, bởi tôi luôn cố gắng nhìn mọi việc, dù tệ đến đâu, bằng cái nhìn thiện cảm.

Để có thể thiện cảm với mọi việc, không chỉ đơn giản là tâm niệm trong lòng, mà phải rèn luyện, thực hành cái cách nhìn thiện cảm ấy.

***

Tôi không biết nhiều lắm về Aristotle, tôi chỉ biết mang máng là ông này làm chủ nô, và có quan điểm rất đặc biệt về đạo đức. Đạo đức theo quan điểm của Aristotle, là phải thực hành, có lẽ phải thực hành từ tấm bé.

Nó hơi khác với cái “nhân chi sơ tính bản thiện”, nghe thì rất sướng tai, nhưng mà ẩn chứa sự lười nhác và phó mặc.

Đọc tiếp

Làm khách thương hồ

Nhiều người không thích chị Tư. Tôi thì lại thích. Tôi thích chị Tư từ lần đầu tiên đọc truyện ngắn của chị đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật từ rất lâu. Hồi đó chị Tư chưa nổi tiếng.

Cái truyện ngắn đó tôi không còn nhớ tên. Chỉ mang máng nó rù rì kể bằng giọng miệt vườn sông nước về một người đàn ông và một con ngan. Nó rù rì và miệt vườn đến nỗi tôi không hiểu nó kể gì, phải đọc lại tới lần thứ hai. Cái lần thứ hai đó, may sao, âm điệu của cái giọng rù rì nó lại bật lên trong đầu tôi thành giọng kể thư thái và buồn bã. Giống như khách thương hồ cuối ngày đi ghe vào Châu Thổ, uống mấy chung nhỏ, nằm nghiêng, ngó mặt nước, ngó bầu trời, nghe gió, đập muỗi và lơ mơ nghe chị Tư kể chuyện. Chuyện đất, chuyện người, chuyện sông nước. Những thân phận nghèo nàn, cảnh đời bạc bẽo, xa văn minh, xa cung đình, xa pháp lý. Lại gần nước, gần đất, gần cây mù u. Có mùi ngò gai, mùi nước dừa, mùi trái sầu riêng và mùi của tấm lòng người nông dân sống bám lấy đất mà trôi nổi theo kênh rạch.
Đọc tiếp