Tag Archives: nhảm

Chuyện ứng cử

Cách nay một khóa quốc hội, anh Cảnh Bình tự ứng cử, rất chính thống, lên cả các báo nhà nước trả lời phỏng vấn rất chững chạc. Kết quả là, sau hiệp thương, anh Bình trở thành nguyên ứng cử viên quốc hội.

Năm nay, tôi nghĩ anh Quang A và các anh chị khác cũng sẽ rơi tự do ở hiệp thương. Vòng hiệp thương có lẽ khá bất ngờ, hoặc rất dị, giống như trường hợp anh Lê Công Định (mà tôi chỉ được nghe kể lại).

Việc tự ứng cử rất hay, thú vị, nôm na là thuốc bổ cho các hoạt động của xã hội dân sự. Nhưng nó có thực sự là đấu tranh chính trị không thì còn phải suy nghĩ tiếp.

Tôi cho rằng, những người như anh Quang A khi ra ứng cử và có cương lĩnh tranh cử tốt đến mấy, thì anh ấy cũng khó mà đại diện cho một số đủ đông quần chúng (cử tri) để có được nhiều phiếu (theo đúng nghĩa cử tri bỏ phiếu cho người họ muốn đại diện cho mình). Nói chung cá nhân không nên đại diện cho ai cả.

Đại diện tốt nhất cho số đông, phải là chính đảng. Tức là, khi tôi muốn có ai đó đại diện cho tôi, thì “ai đó” phải là một chính đảng, với tư tưởng, đường lối, cương lĩnh chiến lược sách lược tương đồng nhất với suy nghĩ, tình cảm và mong muốn của tôi. Rồi thì cái đảng đấy sẽ cử các cá nhân khác nhau vào quốc hội (cá nhân không đại diện được cho ai, nhưng lại đại diện được cho Đảng, thế mới tài). Khi trong quốc hội có (nhiều) nghị sĩ thuộc cái đảng đại diện cho tôi, họ mới thực sự có công cụ để bảo vệ quyền lợi cho những người như tôi, để biến kỳ vọng của tôi thành sự thực.

Đọc tiếp

Chuyện thừa thiếu

Hồi trước còn túc tắc đi làm, buổi sáng việc nhàn, hay kéo một ông anh ra Lê Quý Đôn uống cà phê.

Có lần ông anh bảo, chắc nước mình phải đợi đến khi các tay đại tá trẻ cầm quyền mới khá được.

Có lần khác nói chuyện quan chức mê tín cúng bái ngày càng nặng, ông anh lại tặc lưỡi bảo: thế là quay lại thần quyền.

**

Người ta vẫn nói: nhân dân nào thì chính quyền như thế.

Xã hội Việt Nam có bao nhiêu cái xấu thì ở chính quyền có bấy nhiêu cái xấu. Chỉ khác ở chỗ ở trong chính quyền thì cái xấu ấy có điều kiện để phóng đại lên ngàn lần. Xã hội Việt Nam khiếm khuyết bao nhiêu cái tốt, thì chính quyền cũng khiếm khuyết ngần ấy cái tốt, mà còn thiếu hơn ngàn lần.

Xã hội này thừa: tăm tối, tham lam, bạo lực.

Xã hội này thiếu: khoan dung, điềm tĩnh, can đảm.

Những gì tệ nhất của đất nước này đều có thể dùng những cái thừa cái thiếu trên đây để giải thích.

Tâm tư của ông tá mong có hàm tướng là biểu hiện lòng tham của người dân quen thói nóng vội, đặt vào môi trường nhà nước bị phóng đại lên nhiều lần. Cũng thế nhưng thêm chất bạo tàn coi khinh thiên hạ, ông quan đầu tỉnh vội vàng bổ nhiệm con mình vào chức vụ ngon ăn. Đến cái trường đại học nhà nước bé tí ti cũng thiếu điềm tĩnh, thừa háo danh, toan tính gắn huy chương tứ tung trong nội bộ cốt để phong thần lẫn nhau mà lòe thiên hạ.

Thời chiến tranh đã đành, đến thời hòa bình lãnh đạo cũng vẫn thừa tối tăm và thiếu điềm tĩnh. Tầm nhìn cứ tưởng xa hóa ra ngắn tũn. Vội vội vàng vàng đâm quàng bụi rậm. Doanh nhân, trí giả cũng chẳng hơn gì. Tất cả đồng lòng với nhau mà đánh quả. Quốc gia, tổ quốc chẳng qua là đất và nước. Bán hết mặt đất vàng nhanh tay đút túi,  rồi sẽ có ngày rao bán mặt nước vàng .

Đọc tiếp

Người truyền cảm hứng cho Ông Cụ

Giành độc lập được mấy hôm, Trần Dân Tiên (có lẽ là một nhóm, trong đó có hai vị họ Trần thực sự là Trần Huy Liệu và Trần Ngọc Danh) viết ngay một cuốn sách về cuộc đời ông cụ.

Chương I của cuốn sách nói về cậu thiếu niên tên Thành. Ở tuổi mười mấy, anh Thành đã có ý định đi tìm đường cứu nước.

Con người ta lúc thành công thường nói rất hay về khúc khởi đầu của họ.

Việc xuất dương của anh Thành có thể do hoàn cảnh gia đình (các biến cố trong gia đình, cuối cùng là người cha mất việc) cộng với cảm hứng từ phong trào Đông Du.

Thế nhưng khi anh tới Sài Gòn thì Nhật đã cấu kết với Pháp, dập tắt Đông Du.

Không còn sự lựa chọn nào khác, anh bèn đi phượt tàu thủy. Sau khi học một khóa ngắn hạn tại trường dạy nghề Cơ Khí Á Châu (École des mécaniciens Asiatiques de SaiGon) sau mang tên Cao Thắng/Tôn Đức Thắng, anh Paul Thành (sau này lừng danh qua ngòi bút Trần Dân Tiên với tên gọi anh Ba) đến hãng tàu Chargeurs Reunis đóng trên lầu nhà Grand Hôtel de la Rotonde để xin lên con tàu Amiral Latouche Treville làm rửa bát. (Xem thêm phần Một Góc Phố Đầu Tiên trong Sound of Silence).

Đó là năm 1911.

Trần Dân Tiên cho biết anh Ba đi phượt khá nhiều nơi: Pháp, Bồ Đào Nha và các nước Châu Phi thuộc địa.

Các sách khác của học giả tây còn cho biết anh rất tiết kiệm, dành dụm được cả tiền gửi về cho cha đang lưu lạc Nam Kì. Đọc tiếp

Chuyện học sách

Phi lộ một câu: Lúc đầu định viết về học sách (học thuyết và sách lược) như một bổ túc ngắn cho bài Con đường của rồng, nhưng rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, thành ra bài viết rất dài dòng và lan man này.

I. Phần 1

Sách lược (hành động) đề cập ở đây là sách lược chính trị. Sách lược chính trị không thể đứng một mình, dù ít hay nhiều cũng phải dựa  vào các học thuyết (phát triển) kinh tế, xã hội và quân sự. Nhưng ở Việt Nam thì nói chung cái gì cũng khác.

Quay trở về quá khứ, ở ta đã có lúc học thuyết và sách lược đã có lúc bị trộn lẫn và diễn đạt ra thành lời chỉ trong một vài từ, ngắn tũn và bí hiểm.

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” tương truyền là một “học thuyết” do Trạng Trình phán ra rồi được các Chúa Nguyễn sử dụng để phát triển vương quốc, và sau này thành một đế chế rộng lớn, của riêng dòng họ mình. Từ quan điểm hiện đại, nhìn vào nội hàm của câu sấm, có thể thấy “học thuyết” này có cơ sở lý luận là “địa chính trị” / “không gian sinh tồn”. So với thời điểm ấy thì tư tưởng của Trạng Trình dạy cho chúa Nguyễn rất tiên tiến, nên nhà Nguyễn thành công cũng là dễ hiểu. Còn mục đích mà lập luận hướng tới là để “lập quốc” và “đất nước” này chỉ là để nuôi dưỡng và phát triển một dòng họ (từ đẳng cấp quan nhà Lê, lên lãnh chúa, và cuối cùng thành vua). Nó không phải là học thuyết để xây dựng một nền xã hội công bằng văn minh. Từ đó sách lược (đường lối thực hiện, hành động) của các Chúa Nguyễn cũng không vượt ra khỏi tầm vóc của “học thuyết vắn tắt” này, tuy về sau họ có phát triển học thuyết từ “khả dĩ dung thân” lên “vạn đại dung thân”.

Bây giờ nhìn lại, rõ ràng những gì chúa Nguyễn thực hiện, từ Nguyễn Hoàng tới lúc Gia Long lên ngôi đều có các đặc tính của việc một cường quốc (Đế quốc Đại Nam) hình thành thông qua mở rộng không gian sinh tồn (Friedrich Ratzel): bành trướng thông qua việc chiếm và sáp nhập các vương quốc yếu hơn, đường biên giới mềm, chỉ có giá trị tạm thời trong quá trình bành trướng. Suốt thời của các chúa Nguyễn, kể cả thời binh đao với Tây Sơn đến thời Gia Long lập quốc thì biên giới luôn mềm. Thời Minh Mạng, thậm chí đến tận thời Ngô Đình Diệm, đế quốc này còn thể hiện một đặc tính nữa theo Ratzel: Dân tộc văn minh hơn cưỡng bức các dân tộc bị thôn tính phải theo văn hóa của mình. Có thể nói nhờ tư tưởng gói gọn trong “một câu” mà Trạng Trình truyền cho mà nhà Nguyễn vượt xa nhà Trịnh về chính trị và sách lược hành động. Có thể nó cũng đi vào tiềm thức nên học thuyết Darwin xã hội sau này được ưa chuộng ở Nam Kỳ thuộc Pháp và trong nhóm các cụ Đông Du.

Tương tự như vậy  “giữ chùa thờ phật thì ăn oản” là một “học thuyết” kèm luôn “sách lược” mà Trạng Trình truyền cho cho nhà Trịnh. So với học thuyết dành cho nhà Nguyễn thì học thuyết này cũ kỹ hơn nhiều, sách lược cũng hẹp và nông hơn (chỉ để ăn). Triết lý của học thuyết này là đề cao tính chính danh (của nhà Lê) để kiếm ăn (cho họ Trịnh). Nó cũng gần gũi với triết lý dân gian “ăn cây nào rào cây đấy”. Nhà Trịnh về cuối lũng đoạn chính quyền, quân đội, tham nhũng, sống xa hoa, … đều không thoát ra khỏi triết ký của “học thuyết một câu” này.  Do sự khác biệt giữa hai học thuyết nên dù xuất phát điểm nhà Trịnh tốt hơn nhà Nguyễn nhiều lần nhưng về sau nhà Trịnh kém nhà Nguyễn cả về chính trị, kinh tế và phần nào là quân sự (bốn lần chúa Trịnh kéo quân đánh miền nam thì thua cả bốn). Nạn Kiêu Binh làm đảo lộn Bắc Hà  cũng từ cái gốc của “giữ chùa, dựng phật” này mà ra. Đọc tiếp

Ông Ba Bị, Mẹ Mìn và …

Ba bị chín quai

Ba bị chín quai mười hai con mắt, hay bắt trẻ con, gọi tắt là ông Ba Bị, là một câu nói kiểu đồng dao, thường dùng để dọa trẻ con.

Mười hai con mắt = 6 người = 1 tiểu đội (bây giờ).

Ba bị mà có chín quai = mỗi bị ba quai.

Đây chính là cách hành quân thần tốc của Tây Sơn. Mỗi tiểu đội quân chính quy (thân binh) có 6 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Mỗi nhóm có một cái bị to, có ba quai. Thiết bị, lương thực, nước uống của cả tiểu đội quăng vào cái bị ấy. Rồi cứ thế mà đi bộ ra Thăng Long. (Có thể họ đeo súng trên vai, các đồ khác mới cho vào bị, ba quai xỏ vào 2 đòn gánh loại ngắn hình chữ lambda λ, đi thành hình tam giác nhọn, một người đi trước, hai người đi sau).

Ngày xưa đường không như bây giờ, ngoài việc là đường đất thì còn phải vượt qua rất nhiều sông ngòi đầm lầy, đi bộ kiểu này là nhanh nhất. Quân Tây Sơn là quân đội phương nam (không có mùa đông), quân trang nhẹ và ít, nai nịt gọn gàng, ăn nghỉ rất khắc khổ. Khi chiếm đóng Thăng Long lần thứ nhất, người Bắc Hà rất ngạc nhiên khi quân Tây Sơn ngủ ngoài trời, trên mặt đất.

Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, quân Tây Sơn vừa hành quân vừa bắt lính ở các làng mình đi qua rất dã man. Già cũng bắt, thiếu niên cũng bắt. Ai còn khỏe và là lính thì xung quân, còn không thì làm dân công. Thanh niên ở vùng từ Hà Tĩnh đổ ra bị bắt nhiều nhất, nên dân sợ chết khiếp, từ đó hình thành câu đồng dao này (gốc gác của câu đồng dao này có thể là từ vùng Hà Tĩnh). Dần dần Ông Ba Bị thành hình ảnh đe dọa trẻ con.

Ông Ba Bị dùng bạo lực bắt người, khác với Mẹ Mìn là dụ dỗ lừa người. Mẹ Mìn  xuất hiện ở nông thôn Miền Bắc thời kỳ Pháp mộ phu đi Sài Gòn, đi Tân Thế Giới này nọ. Mẹ Mìn dụ dỗ thanh thiếu niên lên Hà Nội rồi bắt bán cho bọn buôn người, rồi bọn này bán cho các sở mộ phu. Các bọn lừa phụ nữ bán sang Trung Quốc bây giờ chính là “mẹ mìn” hiện đại. Nguồn gốc của việc buôn người, có thể có từ thời Trần. Vào thời Trần có thể đã hình thành một thị trường buôn nô lệ, bao gồm buôn bán tù binh Chăm .

 

SlowHand Đọc tiếp

Chuyện leo cây và nước ta lớn hay nhỏ

Hôm rồi đi uống bia với Lệ Ngưng, cựu ca sĩ văn công quân đội, nàng bảo: nước mình bắt chước cũng không nên thân, cách mạng ô thì ra cách mạng cây.

Bia đang vui, không tiện hỏi nàng nói chữ cách mạng theo nghĩa nào. Cách mạng theo nghĩa ông cụ giải thích là cách cái mạng nó đi, thì đúng là chặt cây rồi.

Lại nhớ đến ngày xưa có chú bé làm tập làm văn, đề bài tả ông ngoại. Chú viết: Ông ngoại em tóc bạc phơ, ngày nào cũng leo cây thoăn thoắt.

Cô giáo phê: người già không thể leo cây. Chú bèn giơ tay phản đối: Tại cô không đọc chú thích của em, chú thích nói “bà ngoại em tên là Cây”.

Vụ cách mạng cây này hay phết, nó cho thấy hóa ra ở Hà Nội vẫn có thể có phong trào (hoạt động) dân sự. Mở ngoặc chút, hoạt động dân sự nói đến ở đây có khuôn khổ rất nhỏ: người dân đấu tranh với chính quyền bằng các biện pháp dân sự (cộng đồng) để bảo vệ các quyền dân sự có tính cộng động của mình. Và họ thắng, chính quyền thua. Hay phết.

Hà Nội có một cái rất đặc thù: thời chiến tranh, thời tem phiếu, thời phân phối, thời xin cho kéo dài quá lâu nên chính quyền quen thói thô lỗ thích làm gì thì làm, quên mất dân có rất nhiều quyền dân sự được pháp luật và hiến pháp bảo vệ. Dân thì tệ hơn, vì quen với việc cúi đầu nghe chính quyền, người dân không những quên những quyền đương nhiên của mình, và quên mất cách đấu tranh dân sự.

Đấu tranh dân sự khác hẳn các đấu tranh khác: trong đó không có lòng căm thù, không sử dụng các biện pháp thô bạo. Mà hai cái món căm thù và phương pháp bạo lực này được giáo dục và tuyên truyền tiêm vào não nhân dân mấy thế hệ qua. Nay có vẻ như, ít ra ở HN, đấu tranh dân sự đã quay lại.

Nhưng vẫn có gì đó đáng lo ngại. Nếu xã hội, cộng đồng tự nó trưởng thành, tự nó cứng cáp, thì các hoạt động dân sự của nó mới thực sự vững chắc và không lạc lối. Ngày xưa công chức, giới có của Hà Nội thời Trần Trọng Kim đã từng có những hoạt động dân sự rất oách. Không ngờ Việt Minh, một lực lượng bên ngoài cộng đồng lợi dụng xoẹt một phát lấy luôn Cách mạng tháng 8 về tay mình. Ở Sài Gòn thì ở đâu hiện ra Trần Văn Giàu nhận luôn cách mạng ở SG là của mình hehe, bọn trí thức tổ chức cách mạng ấy, sau lại chả cay vãi. Hậu quả của hai vụ này, thì đến bây giờ vẫn còn mệt. Mà lịch sử thì rất hay lặp lại hehehe.

Đọc tiếp

Long Nhượng Tướng Quân

Nguyễn Đức Thành có lần trả lời câu hỏi ‘Ai là nhà vua lập quốc, Nguyễn Ánh hay Nguyễn Huệ” như sau: Nguyễn Huệ có công san lấp mặt bằng, Nguyễn Ánh lập quốc.

Quả thực, đế quốc Đại Nam của Minh Mạng, mọc lên từ nước Việt Nam của Gia Long Nguyễn Ánh. Nước Việt Nam của Nguyễn Ánh được xây trên hoang tàn của ba mươi năm nội chiến. Một hoang tàn đổ nát tận gốc rễ xã hội mà di sản tồi tệ của nó còn tồn tại đến tận ngày nay. Bù lại, 30 năm nội chiến ấy đã thống nhất đất nước cả về địa lý: cao nguyên, đàng trong, đàng ngoài; cả về thể chế chính trị: cho vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài  và chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào sọt rác. Xóa bài làm lại từ đầu.

Công cuộc san lấp mặt bằng cấp quốc gia của Nguyễn Huệ bắt đầu khi ông 24 tuổi (1777), cùng Nguyễn Lữ cầm quân chinh phạt Gia Định, giết chúa Nguyễn lúc đó là Nguyễn Phúc Thuần; và rồi kết thúc năm khi ông 36 tuổi (1789) bằng chiến dịch nay được gọi là chiến dịch Việt – Thanh, đánh trong vòng 5 ngày sạch bách liên quân nhà Lê (Chiêu Thống) và nhà Thanh (Càn Long – Tôn Sĩ Nghị). Danh tướng Hứa Thế Hanh của Càn Long bị đập phát vỡ tan ở chuỗi phòng ngự Hạ Hồi – Ngọc Hồi. Hậu duệ của ông tướng này là Hứa Thế Hữu sau cũng vâng lời Đặng Tiểu Bình qua Việt Nam đánh nhau thua nhưng về nước vẫn được báo công (cách đây mấy năm báo Hà Nội Mới có bài ca ngợi Hứa Thế Hữu hết lời). Đọc tiếp

Tuyên huấn Vịt

Ai ở ngoài bắc thời kỳ đóng cửa, sẽ không quên được loa truyền-thanh.

Nó là hệ thống truyền thanh kéo đến từng khu tập thể, vào tận hộ gia đình. Loa không cần pin hay điện, tự nó kêu. Cũng không có nhiều “kênh” để lựa chọn, chỉ có một nút để chỉnh to nhỏ.

Hồi đấy tất nhiên không có internet. Không cả truyền-hình.

Chỉ có “Đài tiếng nói Việt Nam – phát đi từ Hà Nội”. Mãi sau này có thêm các đài địa phương và sau nữa là FM.

Ngoài dùng mắt để đọc báo Nhân Dân, toàn dân chỉ có một kênh thông tin duy nhất để nhập liệu bằng tai. Mọi người phải nghe một thứ giống nhau.

Ngây ngô thế mà lại hay phát nhạc …cổ điển. Có giới thiệu đàng hoàng. Tên nhạc sĩ toàn nghe bằng tai, không biết mặt chữ thế nào. Văn hóa này kéo dài mãi về sau, ngay cả khi đã có truyền hình và sóng ngắn FM để nghe qua radio nhập khẩu của Nhật.

Có một bài hát rất oách, các bác thử đoán xem là bài gì. Là bài “Khúc hát Nàng Son Vếch” trong vở “Piếc Guyn” của nhạc sĩ “Gờ-Rích” do Lê Dung trình bày. Hay vãi chưởng. Sau này có youtube, lên nghe tây hát “Solveig’s song” trong “Peer Gynt”, so với họ mới biết trình Lê Dung chưa bằng lỗ đít con vi trùng. Nhưng mà nhớ lại vẫn thấy hay.

Sau có mạng, mới dò từ Grieg ra Ibsen, rồi từ Ibsen ra Kierkegaard (bác Ibsen hăng hái lăng xê bác Kierkegaard). Bác Kierkegaard này chết rất lâu rồi mới nổi. Chết năm 1855 mà hình như đến 1910 mới được dịch ra tiếng Đức. Nghe đồn Kafka đọc xong phát mê tít. Bác Kier nay được coi là tổ sư hiện sinh. Bạn nào đọc Huyền thoại Sisyphus (NXB Trẻ dịch là Thần thoại Sisyphus) sẽ thấy bác Kier đứng cùng lố nhố một lô các bác sư tổ hiện sinh. Cuốn này, phần kết thúc, Camus viết một đoạn dài về Kafka, hay vãi đạn.

Tinh thần hiện sinh ở khía cạnh đề cao cá nhân và tự do của bác Kier xuất hiện ở khá nhiều nơi, mà có khi ta không để ý. Ví dụ câu nói “bám lề là việc của bầy cừu không phải việc của con người tự do”  rất gần gũi với tư tưởng của bác Kier. Bác Kier nếu còn sống và biết đi xe máy, hẳn sẽ đánh võng như điên.

Bác Kier kính Chúa mà ghét nhà thờ (giáo hội). Giáo hội đã quá xa rời quần chúng, biến báo thông điệp của Chúa để ru ngủ giáo dân và bảo vệ quyền lực độc tôn của mình.

Để đả phá nhà thờ bác ấy viết truyện “Tuyên Huấn Vịt”. Bản tiếng Anh gúc chữ “Duck Church” là ra. Có hai từ khóa của câu chuyện rất vắn này:một là wings (đôi cánh), hai là waddle (đi lạch bạch).

Bản tiếng Việt như sau.

Có một xứ sở anh hùng, dân toàn là Vịt. Chi bộ cũng toàn Vịt, tất nhiên. Bí thư, tuyên huấn cũng là Vịt, và được trả lương để quạc quạc.

Một ngày đẹp trời, lũ vịt lạch bạch kéo nhau đi họp.

Đọc tiếp

Chiếm và Giữ

Dùng bản đồ quân sự thời chiến tranh Nam Bắc 1967-1975 để đọc các sách về các map21bchiến dịch của …Nguyễn Huệ ở Đàng Trong thấy rất thích. Nói cách khác, đọc sách về các chiến dịch quân sự ở Đàng Trong của Nguyễn Huệ, ta nên dùng bản đồ quân sự của chiến tranh Việt Nam, sẽ thấy rất dễ hiểu.

Đọc các chiến dịch của Nguyễn Huệ và của các tướng bên phe Nguyễn Ánh ở vùng Gia Định, rồi đọc về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1967-1975, rồi xem bản đồ (giờ trên internet có rất nhiều), lờ mờ nhận ra: Miền Nam (nam trung bộ đổ vào) rất dễ đánh, dễ chiếm và đồng nghĩa là rất khó giữ. Quang Trung cũng thấy vậy nên không cố công mà giữ. Tất nhiên vì không bỏ công ra giữ nên Đàng Trong trở thành bàn đạp để Nguyễn Ánh lập quốc (và tất nhiên sau khi Quang Trung chết).

Cũng có thể lờ mờ nhận ra một điều nữa: vai trò của Cambodia rất quan trọng. Bình định được nước láng giếng này thì an toàn từ Cao Nguyên đến vùng biển Hà Tiên, tức là một không gian cực kỳ lớn. Đồng thời ổn định được quan hệ kiểu viễn giao với Thailand và Myanmar. Cho nên việc Việt Nam qua Cambodia lật đổ Khmer Đỏ có tác hại (khốc liệt) trong ngắn hạn, nhưng có lợi ích trong dài hạn. Đây cũng có thể là lý do mà Ngô Đình Nhu quyết lật đổ chỉnh quyền ở Cambodia bằng đảo chính mà thất bại nặng, để lại một đống tai họa góp phần đưa quân đội VNCH sau này của tổng thống Thiệu vào thế yếu. Mặc dù nhìn trên bản đồ, thấy quân đội VNCH bố trí phòng ngự đẹp ra phết, Quang Trung còn sống chắc cũng chỉ nghĩ đến thế là cùng. Nhưng mất Cambodia, và quân đội đánh đấm và phối hợp kém, rồi Mỹ ký Paris, thì  ở cái vùng dễ chiếm khó giữ này, thua mới là đúng. Đọc tiếp

Air America

15vanesobitBức ảnh nổi tiếng về sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 là bức ảnh có caption “Cuộc di tản bằng trực thăng trên nóc nhà tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4”. Ảnh do Hubert Van Es lúc đó làm cho United Press chụp.

Bức ảnh này được chụp khoảng 2h30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tòa nhà trong ảnh không phải là tòa nhà đại sứ Mỹ  (nay đã bị phá và xây tòa lãnh sự mới) mà là tòa nhà Pittman Apartments ở 22 Gia Long (nay là 22 Lý Tự Trọng, nằm cạnh trường Trần Đại Nghĩa, đi xuôi Đồng Khởi, rẽ trái độ vài chục mét là tới). Hubert Van Es chụp bức ảnh này từ ban công office của mình trên tòa nhà khách sạn Peninsula Hotel.

Cái máy bay Huey nhỏ trong tấm hình nổi tiếng này cũng không phải là trực thăng của hải quân Mỹ, mà là của Air America, một hãng hàng không tư nhân do CIA bí mật sở hữu.

Chỉ trong riêng hai ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975 đã có 7,014 người được đưa ra tàu của hải quân Mỹ bằng máy bay, trong đó Air America được ghi nhận thành tích không vận khoảng hơn 1,000 (có tài liệu nói tới 5,595 ) người ra tàu của hải quân Mỹ, hoặc tới các điểm trung chuyển (tòa đại sứ, cơ sở của DAO ở sân bay Tan Sơn Nhất, Cam Ranh). Máy bay của hải quân Hoa Kỳ chủ yếu bay từ sân tennis của tòa đại sứ hoặc từ Tân Sơn Nhất, Cam Ranh ra tàu quân sự ngoài biển.

Những chuyến bay giải cứu của Air America trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn trước khi sụp đổ khá ngoạn mục. Các cú hạ cánh lên nóc nhà trong thành phố (Sài Gòn và Cần Thơ) đều là do Air America dùng trực thăng thực hiện. Phi công của Air America cũng sử dụng máy bay vận tải để di tản người từ căn cứ lớn nhất của họ ở Việt Nam là Đà Nẵng ra Cam Ranh.

Trong số những người di tản bằng trực thăng từ nóc tòa nhà Pittman có Trần Văn Đôn và Trần Kim Tuyến.

Đây là lần thứ hai Air America tham gia không vận ở Việt Nam. Năm 1954 họ tham gia cầu hàng không lớn nhất thế giới ở thời điểm ấy, chuyển được khoảng 20 ngàn người di cư từ miền bắc vào nam. Trong các chuyến bay ngược từ Nam ra Bắc họ chở biệt kích, điện đài, súng và thuốc nổ để phục vụ các chiến dịch phá hoại miền bắc sau 1954. Các chiến dịch này đều liên quan đến Lansdale và Conein. Conein lúc này sử dụng vỏ bọc MAAG và có văn phòng ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng. Nhiệm vụ bề mặt của văn phòng này là giám sát di cư ở đầu miền bắc. Ở Hải Phòng vũ khí được chôn ở nghĩa trang thông qua các đám ma giả. Ở đồng bằng bắc bộ, vũ khí thuốc nổ và điện đài được chôn dọc theo sông Hồng. Mãi đến năm 1964 công an miền Bắc mới tìm được vài  kho vũ khí bí mật này. Điệp viên gửi ra miền bắc bằng máy bay của Air America sau đều sợ quá nên lại… lên tàu di cư vào Nam cùng những người lính Pháp cuối cùng. Những người nhái được đào tạo và thả từ biển vào, hoặc biệt kích nhảy dù sau 1954 đều bị miền bắc bắt và giam đến 1975. Người làm thất bại các chiến dịch phá hoại hậu phương này được cho là Phạm Xuân Ẩn và các bạn của ông. Đọc tiếp