Tag Archives: đời

Em dạo này

“Em dạo này có đi xa cuối tuần
Em dạo này có gặp Vy và Xuân
Hàng đêm em có nghe hát xa xăm
Từ quán ăn phù du ngoài sân”

Những câu hát nhẹ nhàng trong bài hát “Em dạo này” của band Ngọt.

Ngọt ngào và tinh tế và hóm hỉnh. Nhớ người yêu cũ mà không dám gọi hỏi thăm. Muốn tình cờ gặp người yêu cũ ở trà đá Hồ Gươm mà chỉ dám kín đáo nói vòng qua nẻo khác.

“Anh dù không muốn tình cờ gặp lại nhau lần nữa
Nhưng em có đi trà đá Hồ Gươm?
Dạo này em có đi trà đá Hồ Gươm?”

*
Anh Châu khi không muốn nói về chính trị, là một anh Châu giống như người thanh niên trong Ngọt. Nhà anh ấy ở Hàng Bài, chỉ nhảy lò cò là tới trà đá Hồ Gươm. Anh ngọt ngào với các cô gái, chân thành với bạn bè, và dí dỏm khi chế diễu chính phủ: “Yếu bóng vía, nhìn đâu cũng thấy ma”.

Ít ra là anh Châu cho đến khi nhận giải Fields, là một người thanh niên như thế.

*
Đất nước mình, ngày xưa ấy, có hàng ngàn thanh niên như thế.

Có một trí thức tên là Đệ. Ngày ấy học giỏi, tốt nghiệp Luật ở Đại học Đông Dương, hơn kém Giáp vài khóa. Đệ còn là hướng đạo sinh, khi Trần Trọng Kim dựng chính quyền, Việt Minh gài Đệ vào làm tri huyện ở Hà Trung, một vùng giáp ranh Thanh Hóa – Ninh Bình.

Sau Cách mạng tháng 8, Đệ lên chiến khu với Trường Chinh. Chính là Tạ Quang Đệ, em ruột Tạ Quang Bửu.

Lên chiến khu, Đệ dịch các trước tác của Mao, để Trường Chinh đưa các lãnh tụ khác đọc, và học, và thấm nhuần ít nhất cũng phải gần được như Chinh. Ai cũng phải đọc, phải thấm nhuần, kể cả ông Cụ. Các trước tác ấy là “Thực tiễn luận (实践论)”, “Luận trì cửu chiến (论持久战)” – luận về trường kỳ kháng chiến. Hai cuốn sách của Mao xuất bản năm 1937 và 1938.

Trước đó, Chinh dẹp sạch những người đã phát động và tổ chức thành công “Cách mạng tháng 8” là Nguyễn Khang (Hà Nội) và Trần Văn Giàu (Sài Gòn), giành trọn công lao và hào quang của “Cách mạng cướp chính quyền” về Xứ ủy bắc kỳ do Chinh cầm chịch.

Sau khi tự mình viết “Kháng chiến nhất định thắng lợi” oách như Mao đăng trên Sự Thật (tháng 3 – tháng 8 năm 1947), trong hai năm tiếp theo 1948-1949 Chinh sử dụng Đệ (bút danh Quang Đạm) lên Sự Thật viết loạt bài chống Tư Pháp Độc Lập để đập lại quan điểm của luật sư Vũ Trọng Khánh. Luật sư Khánh là  Bộ trưởng Bộ tư pháp đầu tiên (trong chính phủ lâm thời), và là người soạn thảo Hiến pháp 1946. Lúc này Khánh là Giám đốc tư pháp chiến khu, luôn gây ra xung đột với bên Đảng do cố gắng giữ hoạt động của Tòa án độc lập với Đảng chuyên chính (một việc mà cho tới ngày nay vẫn còn như là mơ với tư pháp Việt). Đọc tiếp

Chuyện hai cầu

Trong ảnh này có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có Hai Cau The Hucvẻ trang trọng.

Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.

Đọc tiếp

Triết học của rởm rít

Đại ca Aristotle là một tay tổ. Có lần đại ca bảo: cái đếch gì sinh ra ở cõi trần thì đều sinh ra vì mục đích nào đó. Ví dụ con người sinh ra (dưới cõi trần này) là để sống hạnh phúc. Mở ngoặc: cõi trần cũng là khái niệm mà Aristotle là người đầu tiên đặt ra.

Dưới đây là câu chuyện triết học ở cõi trần có tên Vina.

Cái triết lý nói trên của Aristotle được ứng dụng khắp nơi, ví như: cái gì xảy ra thì cũng phải có nguyên do.

Kiểu như anh Nhân đi học ở bển về, lên đến phó thủ, thì nguyên do của việc này là có rất nhiều gà ở Bắc Giang cần gắn chip mà chưa có ai đề xuất, nên cần có anh Nhân. Anh Nhân cần đi học cũng như gà đi bộ cần gắn chip vậy. Aristotle hẳn rất hài lòng.

Xã hội nào cũng có sự chia rẽ, bởi loài người sinh ra là để sống cô độc, càng văn minh thì con người lại càng suy thoái đạo đức (bộ phận không nhỏ), họ căm ghét nhau, xung đột quyền lợi, và tất nhiên là chia phe ném đá nhau. Cái này là do thiên tài Khai sáng Jean Jacques Rousseau viết ra.
Đọc tiếp

Tôi nghĩ là tôi có cách tiếp cận vấn đề khác chị

Trên mạng đang lan truyền thư được cho là của Nguyễn Thị Từ Huy gửi Đàm Thanh Sơn yêu cầu Cùng Viết Hiến Pháp (hienphap.net) rút bài của Từ Huy xuống.

Có một câu, được cho là của Đàm Thanh Sơn, viết cho Nguyễn Thị Từ Huy: “Tôi nghĩ là tôi có cách tiếp cận vấn đề khác chị”. 

Thực tình, từ ngày hienphap.net đưa ra kiến nghị chính thức, tôi đã không vào xem hienphap.net nữa. Lý do thì cũng như những người khác thôi: “Đề xuất thế thì còn gì là hiến pháp, thà không đề xuất còn hơn”.

Đọc tiếp

Cứ đi rồi mãi vẫn chưa đến

Cứ đi rồi mãi vẫn chưa đến là tiểu thuyết một câu đầu tay của tác giả trẻ anh Năm.

Với bố cục không cân xứng chỉ có ba chương dài ngắn khác nhau, cuốn tiểu thuyết cố gắng mô tả các chuyển biến tâm lý đằng sau nội tâm không chỉ của một con người mà cả một dân tộc. Chương đầu rất ngắn gọn và quyết liệt với hai từ “Cứ đi” thể hiện quyết tâm non trẻ, nông nổi nhưng có phần sắt đá và mù quáng của những người dường như phía sau không còn một mẩu không gian để lui gót. Chương sau lãng đãng kéo dài với ba từ “rồi mãi vẫn” như muốn thể hiện sự khắc khoải hy vọng của cố gắng và chờ đợi, trong đó có mơ hồ sự mệt mỏi của thời gian. Chương cuối với hai từ phù phàng “chưa đến” là sự tỉnh ngộ, vỡ mộng khi biết những gì mà người ta đi để đến hóa ra có khi lại là cái để đến rồi đi. Nhưng trên tất cả, sự kết nối hoàn hảo của cả ba chương, lại lấp ló sự lạc quan ở phía sau của bao nhiêu trải nghiệm.

Cuốn tiểu thuyết một câu “Cứ đi rồi mãi vẫn chưa đến” đã động đến những đề tài lớn của nhân loại. Là tình yêu, là tiền bạc và cả sự kiếm tìm văn minh của một dân tộc.

“Cứ yêu đi rồi mãi vẫn chưa cưới” là một tuyến truyện phụ nhưng bắt đầu và kết thúc cùng với cuốn tiểu thuyết. Nó dẫn bạn đọc đi qua số phận của những kẻ yêu nhau bất chấp sự ngăn cản đến thù hận của hai dòng họ. Họ yêu nhau và hướng về phía trước cứ như đằng sau họ là vực thắm của hận thù đang đuổi theo để nuốt từng bước chân hối hả của tình yêu. Thế rồi, mãi mà đám cưới chưa đến, khi mà tình yêu có lúc mệt mỏi muốn lụi tàn, còn những kẻ tình nhân đôi khi chỉ muốn đứng lại, nhắm mắt và buông mình vào vực thẳm cô độc, nhưng họ vẫn tiếp tục yêu và chấp nhận rằng đám cưới vẫn mãi chưa đến. Một tình yêu luôn ở giữa tuyệt vọng buông xuôi và vô tư lự tiến lên. Cũng có thể độc giả sẽ cho rằng, đám cưới sẽ kết thúc tất cả, đầu tiên là kết thúc ngay cuốn tiểu thuyết một câu rất hấp dẫn này. Đọc tiếp

Mặt trời xuống biển trăng lên núi

1.

Đứng trên cầu Tô Châu bắc ngang khu đầm biển duyên hải rộng lớn, chúng tôi quay mặt nhìn ra cửa biển lấp lánh sáng dưới ánh trăng rằm tháng ba. Đấy là phía tây, hằng ngày mặt trời đi xuống biển, là vùng đất liền hiếm hoi ở Việt Nam mà ta có thể chiêm ngưỡng biển xanh dưới ánh tà dương.

Phía sau chúng tôi là trăng rằm tỏa ánh sáng trong vắt xuống phần ăn sâu vào đất liền của biển. Khu đầm ấy phong cảnh hữu tình như hồ nước ngọt rộng lớn, nên người xưa gọi là Đông Hồ. Còn Mạc Thiên Tích, vị đại đô đốc yêu tiếng Việt, gọi là Đông Hồ Ấn Nguyệt chắc cũng vì những đêm trăng soi bóng nước yên bình.

2.

Vùng đất Hà Tiên hoang dã ngày xưa, tự mình thu dưỡng người dân phiêu bạt về đây dựng đất và giữ nước. Trong chưa đầy một trăm năm đầu tiên lập đất, Hà Tiên đã chịu đựng và anh dũng chống trả vô số các cuộc cướp bóc, xâm lăng của cả người Cao Miên, Xiêm La lẫn bọn hải tặc Khmer trộn cùng người Hán.

Có một đảo đá nhỏ, đứng trơ trọi trên cửa biển, vừa là trạm quan sát vừa làm cánh cửa kiên cường chắn sóng, bảo vệ vùng đất nhỏ Hà Tiên. Hòn đảo đấy được Mạc Thiên Tích đặt tên là Kim Dữ Lan Đào (Đảo vàng – Cửa chắn sóng). Nó giống như chính vùng đất Hà Tiên bé nhỏ, từ cuối thế kỷ 17 hoang sơ đã bắt làm cánh cửa che chắn chongười dân khai phá những vùng đất mới, từ Rạch Giá đến Cà Mau, để rồi cùng cái bóng bảo hộ của các chúa Nguyễn thế kỷ 18, đã mở rộng đất đai bờ cõi Việt Nam từ vùng biển cực tây ngược lên đến tận Gò Công, rồi tất cả cùng hòa mình vào trấn Gia Định, thủ phủ của chúa Nguyễn thời tiền Nguyễn Ánh.

Kim Dữ Lan Đào, bây giờ được biết đến với tên Pháo Đài, do vua Minh Mạng xây pháo đài cửa biển trên hòn đảo này, là nơi ta có thể ngồi nhìn ra biển mỗi sáng sớm, khi có thể uống trà với ánh hừng đông phản chiếu mặt hồ, đến khi chiều về lại có thể đối ẩm cùng tà dương hạ dần xuống mặt biển trong lúc trăng ló mặt đầu non.

3.

Cách trung tâm Hà Tiên chưa đến chục cây số là một ngọn núi đá nhỏ cô độc nhô lên trên cánh đồng rộng lớn. Dân ở đây gọi hòn núi đá này là Đá Dựng. Đá Dựng có những hàng đa cổ thụ khổng lồ, rễ chùm lên vách đá. Dưới những chùm rễ đấy ẩn giấu một miệng hang đá, gọi là hang Biệt Động, do thời chiến tranh, biệt động dùng miệng hang này làm trạm quan sát nhìn về thị trấn.

Tên cũ của hang là Cội Hàng Da (gốc cây đa), truyền thuyết là nơi ở của con chằn tinh hung ác bị Thạch Sanh chém. Rồi cũng hang đá này trở thành nơi trú ẩn của Thạch Sanh sau khi bị Lý Thông lừa dối đến nỗi phải trốn vào rừng.
Từ cửa hang này, một ngày kia, Thạch Sanh nhìn thấy đại bàng cắp công chúa Quỳnh Nga bay qua bầu trời, chàng đã giương cung bắn. Con đại bàng xã cánh rơi xuống hòn núi đá Thạch Động, cách Đá Dựng hơn một cây số cánh đồng, là nơi Thạch Sanh lội bộ dò theo vết máu mà tìm đến.

Trong hang đá của Thạch Động vẫn còn giếng đá sâu, tương truyền ăn thông ra biển, nơi Thạch Sanh bám dây leo xuống cứu công chúa và bị Lý Thông hãm hại bằng cách bỏ rơi dưới đáy hang. Cũng chính dưới đáy giếng này, Thạch Sanh đã cứu được thái tử con vua nước Cần Một bị giam trong cũi sắt, để rồi được vua cha tặng cho cây đàn để trả ơn.

Có lẽ Thạch Sanh là truyền thuyết giàu hành động và kịch tính nhất trong kho tàng chuyện cổ tích Việt Nam. So với các chuyện cổ khác, các nhân vật trong Thạch Sanh có họ tên, còn bản thân chuyện cổ tích này được người ta cho rằng xuất hiện trong dân gian tương đối muộn, vào thế kỷ 18, tương ứng với thời kỳ người Hà Tiên bắt đầu dựng đất và giữ nước.

Nếu Thạch Sanh quả thực phát sinh từ vùng đất này, thì ẩn chứa dưới các lớp vỏ truyền thuyết có thể sẽ là bóng dáng của lịch sử.

Con chằn tinh ăn thịt người có thể là phóng chiếu tiềm thức phản kháng của người dân đất Hà Tiên thủa hoang sơ, chống lại không chỉ sự cướp bóc tàn ác của quân lính Cao Miên và còn như muốn thoát ra khỏi cái bóng văn hóa Khmer mà biểu tượng là truyền thuyết rắn thần Naga. Nó cũng lờ mờ lý giải được tại sao trong tiếng Nam người ta nói “dữ như chằn lửa” còn tiếng Bắc không có sự so sánh như vậy.

Đọc tiếp

Lan man dắt sách qua đường

Các đây mấy hôm, nhân các bác ở trên facebook làm ầm ĩ trong cảnh yên lặng về một vụ ngã ngựa dịch thuật, tôi đã viết một cái note ngắn trên facebook của mình để bênh vực các bạn tư nhân làm công tác xuất bản một chút.

Bài viết ấy, ngoài một số lập luận thuần lý, còn lại là vô số các ý kiến cảm tính của tôi. Cảm tính, bởi tôi luôn cố gắng nhìn mọi việc, dù tệ đến đâu, bằng cái nhìn thiện cảm.

Để có thể thiện cảm với mọi việc, không chỉ đơn giản là tâm niệm trong lòng, mà phải rèn luyện, thực hành cái cách nhìn thiện cảm ấy.

***

Tôi không biết nhiều lắm về Aristotle, tôi chỉ biết mang máng là ông này làm chủ nô, và có quan điểm rất đặc biệt về đạo đức. Đạo đức theo quan điểm của Aristotle, là phải thực hành, có lẽ phải thực hành từ tấm bé.

Nó hơi khác với cái “nhân chi sơ tính bản thiện”, nghe thì rất sướng tai, nhưng mà ẩn chứa sự lười nhác và phó mặc.

Đọc tiếp

Bổ đề Tình nhân

Hồi học cấp ba, có thầy Thắng bên chuyên toán qua lớp tôi dạy toán. Thầy bảo: Các em có biết nhà toán học và nhà vật lý khác nhau thế nào không? Khác nhau thế này. Nếu hỏi nhà vật lý các bước để đun một ấm nước, nhà vật lý sẽ nói: Bước 1: đổ nước vào ấm, Bước 2: cho lên bếp. Hỏi tiếp: Nếu trong ấm đã có nước thì sao. Nhà vật lý bảo: tiến hành luôn bước 2. Tương tự như vậy, hỏi nhà toán học. Với câu hỏi trong ấm đã có nước thì sao, nhà toán học trả lời: đổ nước trong ấm ra, quay lại bước 1.

Hôm Tết đến thăm căn hộ nổi tiếng ở Vincom, căn hộ có hai phòng ngủ, có phòng khách, nhưng bếp chả có cái quái gì ngoài một ấm nước điện. Chả có người ở luôn. Căn hộ  được sử dụng cho khách nước ngoài của Viện, hoặc để giáo sư Châu ở mỗi khi về nước.

Đọc tiếp

Nguyễn Gia Trí ở Mai Khôi

Mai Khôi là một nhà thờ nhỏ và giản dị nằm trên đường Tú Xương.

Nhà thờ Mai Khôi nhỏ và khá vắng vẻ. Không có tháp chuông, thay vào đó là tiếng cồng nhỏ, được gióng lên từ ngay phía bên phải gian cung thánh. Nhà thờ cũng không sử dụng piano hay đàn keyboard giả phong cầm, họ chỉ đơn giản dùng một cây guitar gỗ có lẽ gắn thêm pick-up để đàn cho ca đoàn hát.

Mười bốn đàng thánh giá, rất thú vị, được Việt Nam hóa tối đa. Ông quan Phi La Tô đội mũ cánh chuồn. Mấy người  lính La Mã đội nón như lính khố xanh khố đỏ. Người dân thì đàn ông chít khăn mỏ rìu, hoặc khăn đóng, đàn bà quấn khăn.

Đọc tiếp

Đảo ngói

Hồi trước có hai vợ chồng, vợ hơi nghễnh ngãng nên chồng nói gì hay phải hỏi lại. Có lần mái ngói cũ quá phải đảo lại, chồng leo lên nóc để đảo ngói, vợ đứng dưới nhìn lên để kiểm tra chất lượng.

Chồng đảo ngói được một lúc, gọi với xuống để vợ kiểm tra: Kín hay Hở?
Vợ nghe không ra hỏi lại: HỞ? Đọc tiếp