Category Archives: sách

Mùa xa xứ (Ba Mùa Yêu)

Mùa xa xứ hay Ai cũng có một chốn để quay về

(Chương Áp Mái, trích từ tiểu thuyết tí hon Ba Mùa Yêu)

 

Gửi cậu Sanh,

Đã ba tháng nay tôi đợi cậu về để nói chuyện. Mà cậu vẫn biệt tăm. Có người quen nói vẫn thấy cậu thi thoảng ghé vào Sở, nhưng tôi cũng không dò hỏi tiếp, sợ cậu bị liên lụy về sau.

Tôi đợi cậu về chỉ để gặp rồi nói mấy lời. Nói mấy lời thôi, bởi ánh mắt cậu nhìn tôi từ ngày anh Học bị bắt, làm tôi day dứt.

Nay anh Học chết rồi. Anh Ký cũng đã chết. Anh Trân đi đày Côn Đảo không biết khi nào trở về.

Cả ông Trường nữa, tôi nghe tin đã về Sài Gòn cũng đã chết ở Sài Gòn.

Còn tôi biết chỉ vài ngày nữa mật thám sẽ bắt tôi. Họ đã dò ra được cái bản vẽ sơ đồ làm bom mà tôi chỉ cho Ký.

Điều an ủi duy nhất với tôi lúc này, là họ sẽ không đánh tôi như đánh những người tình tình nghi khác trong Sở Cẩm Hàng Trống. Các anh đã chết cả rồi, anh Trân bị đi đày, họ không còn phải tìm thêm ai nữa.

Tôi quyết định viết cho cậu sau khi nghe tin ông Trường chết. Từ từ tôi sẽ viết để cậu hiểu rõ hơn. Nhưng tôi phải phân trần ngay với cậu vì sao tôi nhắc đến ông Trường. Ở Pháp, ông Trường là người mở mắt cho tôi về nỗi mất tự do của người dân thuộc địa. Ở Hà Nội, anh Học là người khuyến khích tôi hành động.

Tôi gặp ông Trường ở Công binh Xưởng Toulouse. Đó là năm 1916. Năm đó ông Trường vừa được Pháp cho ra tù, ông nhập ngũ và làm thông ngôn cho lính Đông Dương ở công binh xưởng. Tôi lúc này mới ra khỏi quân y viện lính Annam đặt ở trung tâm huấn luyện lính Saint Rafael gần Marseille. Khác các anh em lính thợ, tôi biết một chút tiếng Pháp, thậm chí mấy người Tây ở Hà Nội còn khen tôi nói tiếng Pháp đúng mẹo. Khi gặp ông Trường, ông ấy hỏi tôi có biết Cuốc Ngữ không, có biết Le Nôm không, Le Chinois không. Tôi bảo ông Trường là tôi đọc được cả. Ông Trường bảo, ”Anh lên giúp việc cho tôi.“ Ông Trường làm thông ngôn, nhưng hay viết đơn giúp lính Annam. Tôi hầu ông Trường việc ghi tên họ, quê quán người ta bằng chữ Cuốc Ngữ. Tên tôi cũng là do ông Trường cũng khuyên đổi. Ông bảo, ”Tên Trúc, người Tây khó gọi.“ Sau đó tôi lấy tên Trúc Tâm. Gọi là Tâm cho dễ.

Ông Trường dạy thêm tôi tiếng Pháp. Dần dần ông nói chuyện nhiều với tôi,lúc đó tôi vỡ lẽ chuyện ông mới được ra tù rồi đăng lính và chuyển đến Toulouse. Ông bị người Pháp bắt đi tù vì ông có quốc tịch Pháp, sống ở Pháp mà lo chuyện ở tận Đông Dương. Ông Trường bị bắt vì lập ra hội ái hữu La Fraternité des compatriotes10, có liên lạc mật thiết với ông hoàng Cường Để và Phan Châu Trinh. Ông Cường Để chống Pháp ở Bắc Kỳ ít người biết, nhưng trong Nam Kỳ, lúc tôi đi qua có nghe người ta nhắc tới. Sau này, quãng năm 1919, lúc tôi chuẩn bị rời Thessaloniki bên xứ Macédonie thì tôi có nghe ông Trường tham gia nhóm ký tên trong Revendications du peuple annamite11.

Hình như tôi hơi lan man. Để tôi viết lại cho có đầu đuôi, cậu theo cho dễ.

Đọc tiếp

Sách: Các thế giới song song

Bài điểm sách này viết cho TTCT và cũng để hâm nóng lại link Ba Mùa Yêu.

Interstellar của đạo diễn Christopher Nolan là một bộ phim rất thành công DSC05480năm 2014. Phim kể về một người cha chia tay đứa con gái bé nhỏ của mình rồi dùng tàu vũ trụ đi xuyên qua lỗ sâu đục (hay còn gọi là lỗ giun) để đi vào tương lai và tìm cách cứu nhân loại. Bị mắc kẹt ở tương lai, ông tìm mọi cách để gửi thông điệp về cho con gái của mình. Cuối cùng, ông đã thành công nhờ sử dụng sóng hấp dẫn. Một bộ phim khoa học giả tưởng nói về tình cha con nhưng lại rất lý thú với các ý tưởng vật lý cao siêu và kỳ lạ vốn khá khó hiểu với đại chúng.

Sau khi  xem phim, giáo sư vật lý Đàm Thanh Sơn có viết trên blog của mình, rằng cố vấn khoa học của bộ phim là giáo sư vật lý Kip Thorne của Caltech, đồng thời đưa ra bốn bài báo khoa học và khuyến khích mọi người đọc để hiểu thêm các ý tưởng vật lý vũ trụ trong Interstellar.

Với hầu hết bạn đọc bình thường, việc đọc các bài báo khoa học kiểu này sẽ hơi mệt, mất thời gian, và có thể  còn rất chán. Thay vào đó, các bạn có thể tìm đọc một cuốn sách hấp dẫn hơn đã được dịch sang tiếng Việt: Các thế giới song song (Parallel Worlds) của nhà vật lý Michio Kaku.

Trong Các thế giới song song, các tên tuổi vật lý mà giáo sư Sơn nhắc đến trong bài viết của mình như Thorne, Misner, Wheeler sẽ xuất hiện cùng với hầu hết các nhà vật lý vĩ đại khác từ Newton đến Einstein. Cùng với các tên tuổi ấy là các ý tưởng khoa học của họ, được diễn giải một cách ngắn gọn, mạch lạc và tương đối dễ hiểu.

Bởi Các thế giới song song là một cuốn sách rất đặc biệt: một cuốn sách dành cho bạn đọc đại chúng, viết về lịch sử ngành vũ trụ học cùng hai trụ cột của nó là thuyết tương đối và vật lý lượng tử.

Trong những trang đầu tiên của cuốn sách, tác giả và cũng là nhà vật lý vũ trụ Michio Kaku đã dẫn dắt độc giả tiếp cận ngành vật lý vũ trụ bằng hai quan niệm tôn giáo đối nghịch nhau về bản chất của vũ trụ. Một vũ trụ của Ki-tô giáo, có điểm bắt đầu (Sáng Thế). Một vũ trụ Niết-Bàn của Phật Giáo, không có bắt đầu và không có kết thúc. Rồi cũng rất ngắn gọn, ngay trong chương đầu tiên của cuốn sách, tác giả đưa cho bạn đọc một giải pháp bớt bối rối hơn: ngày càng có nhiều chứng cứ để củng cố cho lý thuyết về sự tồn tại của đa vũ trụ: liên tục có những vụ trụ mới “nảy mầm” ra từ những vũ trụ khác, giống như liên tục có Sáng thế trong một Niết bàn vô tận. Một ý tưởng vật lý rất khác với trực quan của một người bình thường, nó bí ẩn và …hấp dẫn.  Như nội dung của bộ phim Interstellar vậy.

Đọc tiếp

Chuyện khẩu vị

Bài này tôi viết cho Phiếm Đàm của TTCT. Viết tào lao chém gió để mua vui cho mọi người, và nhân tiện câu khách cho tiểu thuyết tí hon Ba Mùa Yêu mà tôi vừa tự xuất bản trên internet.  Phía dưới bài này, tôi cũng trích đoạn của Ba Mùa Yêu (hiện đã có bán trên  link của Barnes and Noble), để mọi người đọc thử cho biết.

*

Có lẽ từ khi bắt đầu biết chọn thức ăn con người cũng bắt đầu nhận biết về mùi vị.

Vị của thức ăn trên đầu lưỡi tác động không những sớm, mà còn mạnh, vào nhận thức của con người cho nên nó còn ảnh hưởng đến cách con người nhìn nhận xã hội và cuộc đời.

“Đồng cam cộng khổ” hay “Khổ tận cam lai” là những câu thành ngữ hán việt, tức là của người Tàu, nhưng rất đỗi quen thuộc với người nước ta. Quen đến nỗi dù không hiểu chính xác nghĩa của từng từ, người ta vẫn hiểu được hàm ý của câu.

Cam (甘) có nghĩa là ngọt. Khổ((苦)  là vị đắng. Có ngọt thì cùng chia, có đắng thì cùng chịu.

Vị ngọt rất đặc biệt. Khi nếm vị ngọt rồi, ta vẫn có thể nếm qua vị khác: chua, cay, mặn. Nhưng đã nếm vị khác rồi, nhất là vị cay như cháy lưỡi, ta không thể nếm thêm gì khác.

Vậy nên, người Tàu ngày xưa đặt ra năm vị (ngũ vị) cơ bản, tương ứng với ngũ hành, đã cho rằng vị cam (ngọt) là vị cơ bản nhất. “Cam giả, ngũ vị chi bản dã” nghĩa là vị ngọt là gốc của ngũ vị.

Vị ngọt vì thế là biểu tượng cho những gì tốt đẹp. Chữ “Điềm – 甜”, là ghép của chữ cam và chữ lưỡi (thiệt – 舌) chỉ vị ngọt của đường mật, liên tưởng đến lời nói ngọt ngào, của nụ hôn sâu, và tất nhiên là liên tưởng đến niềm vui, hạnh phúc. Đặng Lệ Quân có một bài hát rất hay tên là Điềm Mật Mật (Mật Ngọt). Trần Khả Tân có một bộ phim rất hay cũng tên là Điềm Mật Mật. Bộ phim này nói về tình yêu sau bao nhiêu cay đắng đã có kết cục ngọt ngào, hạnh phúc.

Tất nhiên, trái nghĩa với ngọt, là đắng. Những gì đau đớn, buồn bã nhất đều có liên tưởng đến “khổ”, tức là vị đắng. Vị đắng bao giờ cũng khó nuốt.

Vị cam (ngọt) là gốc của ngũ vị, nhưng vị hàm (咸) nghĩa là mặn, lại được coi là “bách vị chi chủ” nghĩa là chủ của trăm vị. Người ta có thể ăn thiếu ngọt, thiếu chua, thiếu cay, nhưng rất khó ăn những gì thiếu mặn. Hơn nữa, mặn có thể bổ sung vào những vị khác. Canh chua vẫn có mặn. Đồ cay cũng có thể cho mặn vào. Và đặc biệt nhất, các vị khác có thể có từ nhiều loại thực phẩm khác nhau, riêng mặn chỉ có từ muối. Đọc tiếp

Chuyện tình: Ba Mùa Yêu

Tôi vừa tự xuBamuayeuất bản một cuốn sách dưới định dạng ebook để phát hành trên internet.  Tên cuốn sách là Ba Mùa Yêu, ISBN: 9781311202130. Tôi sử dụng Smashwords để xuất bản cuốn sách này. Các bạn có thể bấm vào link Smashwords này để mua sách ở các định dạng khác nhau: epub, pdf… Trước khi quyết định mua sách, bạn cũng có thể download phần sample về đọc thử.

Sách cũng được bán trên các nhà sách online khác. Nếu bạn dùng các thiết bị của Apple thì bấm vào link Apple này để mua.

Các nhà sách khác như Barnes and NobleKobo,  ỊnkteraOyster Book, Blio cũng có bán Ba Mùa Yêu. Bạn có thể vào các trang này và search bằng tên sách (Ba Mùa Yêu) hoặc số ISBN (9781311202130)

*

Dưới đây là lời giới thiệu tôi tự viết cho cuốn sách, và mục lục các chương.

Tựa viết lấy

Ba Mùa Yêu là một “tiểu thuyết tí hon” tôi viết trong mùa đông năm 2014. Gọi là “tiểu thuyết tí hon” bởi vì:

+ Một là nó rất ngắn. Ngồi cà phê sáng thứ Bảy lâu một chút là đọc hết cuốn sách, hoặc ăn tối xong đọc một lèo là đến giờ đi ngủ.

+ Hai là tuy rất ngắn nhưng có tới sáu chương. Và dù rất ngắn nhưng Ba Mùa Yêu vừa viết tình yêu vừa về tình báo. Có nhiều mối tình, có cả xếp hình, nhiều sự kiện lịch sử, nhiều phân mảnh, cấu trúc rời rạc.

Trong Ba Mùa Yêu, có những người trẻ thế kỷ XXI. Họ dùng Facebook, đọc sách Tây, nghe nhạc Mỹ, và yêu nhau. Có những người trẻ của những năm 1920. Họ lẩn trốn mật thám Pháp, hoạt động chống nhà nước thực dân, và… yêu nhau. Có cả những người trẻ từ Annam đi lính cho Pháp ở châu Âu trong Thế chiến thứ Nhất. Họ tò mò học hỏi cuộc sống xa lạ, và… cũng yêu nhau. Đọc tiếp

Chuyện Bố Già

BOGIA_WEBKhi Tập Cận Bình thịt nốt thượng tướng Quách Bá Hùng, các nhà phân tích bắt đầu soi mói vào điểm yếu dường như bây giờ mới lộ của Tập Béo: không có  nhân lực tiếp quản những khu vực Tập xuống đao lấy mạng đầu lĩnh.

Hơi khập khiễng, nhưng vẫn có lý, Tập kém xa nhân vật Don Michael của The Godfather. Ngay sau khi giết caporegime Tessio, Don Michael sai Lampone lập tức tiếp quản băng của Tessio. Trước đó Michael cho phép Rocco Lampone bí mật lập băng riêng của mình mà chính Tom Hagen cũng không biết. Bố Già Michael hình như còn hơn Tập ở chỗ: “không để một ai biết mình nghĩ gì”.

Bạn đọc có thể thích cuốn tiếu thuyết về thế giới ngầm The Godfather của Mario Puzo, có thể không. Nhưng rất nên đọc cuốn sách này. Đọc nó như đọc như một cuốn sách dạy về quản trị, về chiến lược, về đầu tư, thậm chí cả về đắc nhân tâm nữa.

Trước khi tiến hành cuộc chiến đẫm máu tàn sát tất cả các gia đình mafia khác để thống lĩnh giang hồ, Michael Corleone đã đa dạng hóa đầu tư của mình từ bảo kê và bảo tiêu ở miền đông qua một lĩnh vực rất mới mẻ là casino ở một vùng đất khác là Las Vegas. Khi bắt đầu cuộc chiến, Michael giết luôn đối tác ruột của mình ở Las Vegas là Moe Greene để kiểm soát toàn bộ khoản đầu tư của gia đình. Thậm chí trong phần 3 của loạt phim Godfather, Michael còn nỗ lực cải cách thể chế của gia đình để cập nhật với văn minh nước Mỹ (hợp pháp hóa hoạt động của gia đình mafia này). Không chỉ khống chế chính trị gia, Michael còn tác động được đến cả tòa thánh Vatican. Điều kỳ diệu chỉ có trong tiểu thuyết ấy tất nhiên hoàng đế đỏ Tập Cận Bình không thể làm được.

***

Ông Lê Duẩn từ Nam ra chỉ mất ba năm là cầm chịch miền bắc, đưa các đối thủ chính trị sừng mỏ tưởng như không thể chạm tới đi vào nơi cô quạnh. Thời bao cấp, người ta chế diễu lãnh đạo là “chỉ được cái đi tù nhiều” rồi cứ thế quên đi chi tiết Lê Duẩn là người đi tù lâu nhất. Một người tù Côn Đảo đã từng cưỡi lên đầu được bọn tù hình sự, vượt qua các vụ giết chóc tàn nhẫn trong tù (mà trung tướng Nguyễn Bình từng thoát được với một con mắt chột) thì ngán gì các đối thủ chính trị vốn chỉ biết cầm bút với vẽ bản đồ. Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ (tiếp và hết)

I. OSS Hoa Kỳ, quân Đồng Minh và múi giờ Hà Nội

Là con một gia đình dòng dõi ở Chicago, Albert Peter Dewey vào học đại học Yale, tốt nghiệp, đi làm phóng viên thường trú ở Paris cho Chicago Daily News và thực hiện các nhiệm vụ ngầm cho Rockefeller. Thế chiến 2 nổ ra, Dewey đăng lính và cuối cùng gia nhập OSS (cơ quan tiền thân của CIA). Đầu tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (15 tháng 8), Dewey được cử đến Sài Gòn, đứng đầu một toán OSS có 7 thành viên, để đại diện cho quyền lợi Hoa Kỳ. Ở thời điểm này Hoa Kỳ chưa có cơ quan ngoại giao trên đất Đông Dương thuộc Pháp.

Khoảng nửa năm trước khi nhóm OSS của Dewey đến Sài Gòn, quân Nhật bất ngờ đảo chính Pháp ở Đông Dương (tháng 3), bắt giữ tù binh (POW), trong đó hơn 200 người Mỹ. Khi Dewey tới Sài Gòn thì Thế chiến 2 đã kết thúc, Nhật đã đầu hàng quân Đồng Minh, ở Hà Nội Việt Minh đã cướp được chính quyền, và đang được phe Đồng Minh (Mỹ, Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch) yểm trợ vì có công chống Nhật. Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ

Năm 1940.

Vào năm này chính quyền Vichy ở Pháp thân phe trục (phát xít), các nhân viên ngoại giao của Pháp ở Tokyo đạt được thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật, qua đó chính quyền Đông Dương thuộc Pháp “tề” Nhật. Người Nhật, sau khi thoát khỏi cái bóng khổng lồ của ý thức hệ Trung Hoa, đã tự mình phương tây hóa, tự chủ, lớn mạnh và thắng luôn cái bóng đen khổng lồ Trung Hoa (chiến tranh Trung Nhật Giáp Ngọ 1894-1895), thắng quân đội Nga (1904-1905), chiếm toàn bộ Triều Tiên, rồi chiếm toàn bộ Trung Hoa (1937-1945) và ở thời điểm Pháp ở Đông Dương (Indochina) tề Nhật (1940) thì Nhật đã chiếm Đông Nam Á.

Indochina rất quan trọng. Người Nhật dùng phía bắc (Đàng Ngoài, Đông Kinh = Tonkin) để làm hậu cần cho quân đội Nhật ở Quảng Tây và Vân Nam thông qua cảng Hải Phòng và đường bộ đi tới Lạng Sơn. Họ dùng phía nam (Đàng Trong = Cochinchina) để làm căn cứ hải quân và không quân . Lúc này quân đồng minh (Hoa Kỳ) đã có các hoạt động quân sự ở quanh Hà Nội và Hải Phòng, quân Nhật đã bị máy bay Mỹ ném bom.

Trong một quãng thời gian rất ngắn ở thời điểm Pháp Nhật đang thỏa thuận, ngày 22.9.1940 quân đội Nhật cùng một nhóm quân vũ trang người Việt và người Hoa (Kiến quốc quân, thuộc Việt Nam Phục Quốc Quân của Hoàng Thân Cường Để) tiến từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Đồng Đăng, đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp rút chạy, rồi sau đó quân Nhật cũng rút trở lại qua biên giới. Kiến quốc quân và chỉ huy Trần Trung Lập ở lại chiến đấu, sau bị Pháp bắt và xử bắn ở Lạng Sơn. Cũng nhân biến cố này, các tù nhân của Đảng cộng sản Đông dương được Nhật thả ra từ nhà tù Lạng Sơn khởi nghĩa. Ngay sau đó Chu Văn Tấn được Hoàng Văn Thụ điều xuống nắm quyền. Cuộc khởi nghĩa này, chính là khởi nghĩa Bắc Sơn, bị Pháp quay lại dẹp rất nhanh.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy ủy ban khởi nghĩa đã thử nghiệm được mô hình chính quyền khởi nghĩa sau này được Việt Minh áp dụng khắp nơi trước khi chiến tranh Pháp -Việt (chiến tranh Đông Dương) nổ ra. Trong các thử nghiệm ấy có cả đánh du kích, phá hoại và tảo thanh (giết những người mà họ khép vào tội Việt gian). Chu Văn Tấn sau trở thành Bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám. Đọc tiếp

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Đọc tiếp

Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry  Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ  “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa  của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở VN và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu. Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của The Quiet American , và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American .

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên rồi làm Phó giám thủ Nha văn khố và Thư viện Đông dương (thự viện trung ương) Hà Nội. Năm 1942 ông vào Huế để  kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế, Giám thủ Văn khố và Thư viện Hành chánh Trung kỳ (Annam). Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội (Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc, những thực chất có lẽ chỉ quản lý Thư viện Trung ương Hà Nội).  Năm 1945  ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu ” “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi – Hội Khai xuân ở Hà Nội”, bản tiếng Việt có thể xem ở đây.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam,  và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian  ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Đọc tiếp

GoRin No Sho

Lời giới thiệu Ngũ Luân Thư

Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến cực kỳ khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15 tháng thứ 9 niên hiệu Keichō (Khánh Trường) thứ 5 (ngày 21 tháng 10 năm 1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi Seikigahara là “tử địa” vì trong trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết. Sekigahara cũng được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.

Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi (Cung Bản Vũ Tàng), bước vào trận chiến Seikigahara với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, là phe rốt cuộc đã thua trận chiến này. Kiếm khách trẻ và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến. Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát. Sau đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Musashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Niten Ichi Ryū (Nhị Thiên Nhất Lưu). Sau này ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).

Người ta vẫn nói: để hiểu được một người Nhật đi ra thế giới bên ngoài để kinh doanh thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh Nhật bước chân vào tử địa Sekigahara.

Để hiểu được việc các quan chức chính phủ hoặc doanh nghiệp Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và tướng quân của mình bị ô nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sĩ đạo.

Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hàng ngày thế nào, các tập đoàn Nhật lập chiến lược kinh doanh ra sao, các chính trị gia Nhật ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm thánh Miyamoto Musashi.

Đọc tiếp