Category Archives: nhảm

Anh ruột và anh rể

“Nếu không phải anh mày, thì cũng là anh vợ mày”.

Mày ở đây là quan tham, còn anh hoặc anh vợ là “bình phong” che giấu của cải do tham nhũng mà có.

Câu nói này phổ biến ở Trung Quốc. Sau vụ Hồ Sơ Panama, toàn bộ internet của Trung Quốc bị chặn từ “Panama” và từ “jie fu”. Jie-Fu là tả phu hay tỷ phu, tức là anh rể.

***

Tùng Phong giải thích cho tôi hiểu như sau.

姐夫 là  Tả phu (nhưng chữ tả mình quen đọc là thư).

Chữ Tả trong jiejie là chị gái còn chữ Phu trong zhangfu (trượng phu: chồng).  Tức là chồng của chị gái, là anh rể.

Ví dụ tiểu thư,  mình cũng viết chữ Hán là chữ tả kia: xiaojie tức tiểu thư

姊: tỷ (tỷ tỷ, tỷ muội) cũng có nghĩa là chị gái. Còn một chữ tỷ nữa cũng có nghĩa là chị gái. 姉 (tỷ) tụi Nhật dùng chữ này để chỉ chị gái.

Liên quan đến chữ anh rẻ này lầ hai cái tên:邓家贵 (Deng jiagui) Đặng Gia Quý và 齐桥桥 (Qi Qiao Qiao) Tề Kiều Kiều.

***

“Tả phu” và “Panama” là những từ bị loại bỏ khỏi mạng Vi Bác của Trung Quốc.

Trong danh sáchh Panama có tên anh rể của Tập Cận Bình, chồng của Tề Kiều Kiều chị của Tập. Ông anh rể có tên là Đặng Gia Quý trước đây điều hành 2 công ty offshore ở  đảo Virgin.  Trước đây có nghĩa là trước khi Tập lên ngôi. Đọc tiếp

Ái tình và Cam Ranh

Hôm hội sách vừa rồi, có người bạn ở bển về, rủ đi uống bia đêm. Kể là bên Tàu các em xinh tươi hay rủ khách nước ngoài đi “tác ái”.

Chợt nhớ ngày bé, đọc các sách diễm tình tiền chiến, thấy các nhân vật trẻ trong đó hay rủ nhau “làm ái tình”. Có lẽ ngày xưa Việt Nam kiêng nói chuyện này, nên từ ngữ thường bóng gió, kiểu mây mưa, ân ái, thay vì dùng hẳn chữ “làm” nghe hơi công nghiệp. Cách nói “làm ái tình” hẳn là cách dịch sang tiếng Việt của “faire l’amour” trong tiếng Pháp, và đến 196x thì may mắn làm sao ở Sài Gòn nó khớp với từ tương đương trong tiếng Mỹ. Lâu ngày rút ngắn thành “làm tình”.

Hôm nay đọc báo biết tin Cam Ranh mở cửa cho các kiểu tàu chiến của các nước vào chơi, kể cả tàu Tàu. Đọc tiếp

Chuyện đấu tranh

Trong bài trước tôi đã nói về cái bánh to mà Đảng đang ôm hết của dân chắc chắn là một dạng cân bằng bền vững của tối ưu Pareto. Tức là sẽ chẳng có thay đổi gì cả.

Trong bài này tôi nói về hai nhân vật rất nổi tiếng trong xã hội và chính trị Việt Nam đương đại.

Một là anh Nguyễn Quang A.

Nguyễn Quang A nổi tiếng từ lúc nước Việt Nam thống nhất chưa có doanh nhân. Hay nói cách khác, Nguyễn Quang A là doanh nhân rặt chế độ đầu tiên, khác với các doanh nhân cùng thời kỳ nhưng ở phía nam, đã từng kinh qua nền kinh tế mở trước 1975. Khoảng đầu 199x, tôi còn nhớ lúc đó khoa lý học buổi chiều ở dãy nhà cấp 4 đằng sau nhà Liên Hợp, có lần đề tài buôn dưa lê lúc nghỉ trưa của đám sinh viên bọn tôi là về là Nguyễn Quang A người được báo đăng tin là có lương cao nhất Việt Nam lúc bấy giờ (hình như là 50 triệu). Sau này Quang A dịch sách về tự do, rồi dấn thân vào các hoạt động khác. Nguyễn Quang A ngày nay rất nổi tiếng và có đông đảo người ủng hộ.

Những gì Nguyễn Quang A đã làm, và sẽ làm nếu như trúng cử Quốc Hội, tôi tin chắc sẽ đóng góp một ít vào macro, đóng góp nhiều hơn vào các thay đổi micro. Nhưng về foundation lại có thể có hại. Ở mức độ foundation, các hoạt động tự ứng cử càng được ủng hộ bao nhiêu thì lại càng củng cố tính hợp pháp của chính quyền bấy nhiêu. (Rất thú vị, dù hành động tự ứng cử của anh Quang A cốt là để thách thức dân chủ đến thế là cùng, nhưng có lẽ tác động cuối cùng của hành động này với số đông quần chúng sẽ có tác động legitimate thêm cho Đảng và nhà nước).

Hai là anh Đoàn Văn Vươn.

Không mấy ai biết về Đoàn Văn Vươn cho đến khi anh này đột ngột nổi tiếng với dàn hoa cải và địa lôi đầy màu sắc giắc-cu lãng mạn. Cách hoạt động của Đoàn Văn Vươn thu phục được ít người ủng hộ hơn Nguyễn Quang A. Nó cũng không đóng góp gì cho macro lẫn micro. Nhưng ở tầm foundation, nó bắt người ta phải tự đặt câu hỏi về hành động và tính hợp pháp của chính quyền.

Giữa hai ngôi sao nói trên có một khác biệt rất quan trọng.

Đọc tiếp

Chuyện ứng cử

Cách nay một khóa quốc hội, anh Cảnh Bình tự ứng cử, rất chính thống, lên cả các báo nhà nước trả lời phỏng vấn rất chững chạc. Kết quả là, sau hiệp thương, anh Bình trở thành nguyên ứng cử viên quốc hội.

Năm nay, tôi nghĩ anh Quang A và các anh chị khác cũng sẽ rơi tự do ở hiệp thương. Vòng hiệp thương có lẽ khá bất ngờ, hoặc rất dị, giống như trường hợp anh Lê Công Định (mà tôi chỉ được nghe kể lại).

Việc tự ứng cử rất hay, thú vị, nôm na là thuốc bổ cho các hoạt động của xã hội dân sự. Nhưng nó có thực sự là đấu tranh chính trị không thì còn phải suy nghĩ tiếp.

Tôi cho rằng, những người như anh Quang A khi ra ứng cử và có cương lĩnh tranh cử tốt đến mấy, thì anh ấy cũng khó mà đại diện cho một số đủ đông quần chúng (cử tri) để có được nhiều phiếu (theo đúng nghĩa cử tri bỏ phiếu cho người họ muốn đại diện cho mình). Nói chung cá nhân không nên đại diện cho ai cả.

Đại diện tốt nhất cho số đông, phải là chính đảng. Tức là, khi tôi muốn có ai đó đại diện cho tôi, thì “ai đó” phải là một chính đảng, với tư tưởng, đường lối, cương lĩnh chiến lược sách lược tương đồng nhất với suy nghĩ, tình cảm và mong muốn của tôi. Rồi thì cái đảng đấy sẽ cử các cá nhân khác nhau vào quốc hội (cá nhân không đại diện được cho ai, nhưng lại đại diện được cho Đảng, thế mới tài). Khi trong quốc hội có (nhiều) nghị sĩ thuộc cái đảng đại diện cho tôi, họ mới thực sự có công cụ để bảo vệ quyền lợi cho những người như tôi, để biến kỳ vọng của tôi thành sự thực.

Đọc tiếp

Chuyện thừa thiếu

Hồi trước còn túc tắc đi làm, buổi sáng việc nhàn, hay kéo một ông anh ra Lê Quý Đôn uống cà phê.

Có lần ông anh bảo, chắc nước mình phải đợi đến khi các tay đại tá trẻ cầm quyền mới khá được.

Có lần khác nói chuyện quan chức mê tín cúng bái ngày càng nặng, ông anh lại tặc lưỡi bảo: thế là quay lại thần quyền.

**

Người ta vẫn nói: nhân dân nào thì chính quyền như thế.

Xã hội Việt Nam có bao nhiêu cái xấu thì ở chính quyền có bấy nhiêu cái xấu. Chỉ khác ở chỗ ở trong chính quyền thì cái xấu ấy có điều kiện để phóng đại lên ngàn lần. Xã hội Việt Nam khiếm khuyết bao nhiêu cái tốt, thì chính quyền cũng khiếm khuyết ngần ấy cái tốt, mà còn thiếu hơn ngàn lần.

Xã hội này thừa: tăm tối, tham lam, bạo lực.

Xã hội này thiếu: khoan dung, điềm tĩnh, can đảm.

Những gì tệ nhất của đất nước này đều có thể dùng những cái thừa cái thiếu trên đây để giải thích.

Tâm tư của ông tá mong có hàm tướng là biểu hiện lòng tham của người dân quen thói nóng vội, đặt vào môi trường nhà nước bị phóng đại lên nhiều lần. Cũng thế nhưng thêm chất bạo tàn coi khinh thiên hạ, ông quan đầu tỉnh vội vàng bổ nhiệm con mình vào chức vụ ngon ăn. Đến cái trường đại học nhà nước bé tí ti cũng thiếu điềm tĩnh, thừa háo danh, toan tính gắn huy chương tứ tung trong nội bộ cốt để phong thần lẫn nhau mà lòe thiên hạ.

Thời chiến tranh đã đành, đến thời hòa bình lãnh đạo cũng vẫn thừa tối tăm và thiếu điềm tĩnh. Tầm nhìn cứ tưởng xa hóa ra ngắn tũn. Vội vội vàng vàng đâm quàng bụi rậm. Doanh nhân, trí giả cũng chẳng hơn gì. Tất cả đồng lòng với nhau mà đánh quả. Quốc gia, tổ quốc chẳng qua là đất và nước. Bán hết mặt đất vàng nhanh tay đút túi,  rồi sẽ có ngày rao bán mặt nước vàng .

Đọc tiếp

Người truyền cảm hứng cho Ông Cụ

Giành độc lập được mấy hôm, Trần Dân Tiên (có lẽ là một nhóm, trong đó có hai vị họ Trần thực sự là Trần Huy Liệu và Trần Ngọc Danh) viết ngay một cuốn sách về cuộc đời ông cụ.

Chương I của cuốn sách nói về cậu thiếu niên tên Thành. Ở tuổi mười mấy, anh Thành đã có ý định đi tìm đường cứu nước.

Con người ta lúc thành công thường nói rất hay về khúc khởi đầu của họ.

Việc xuất dương của anh Thành có thể do hoàn cảnh gia đình (các biến cố trong gia đình, cuối cùng là người cha mất việc) cộng với cảm hứng từ phong trào Đông Du.

Thế nhưng khi anh tới Sài Gòn thì Nhật đã cấu kết với Pháp, dập tắt Đông Du.

Không còn sự lựa chọn nào khác, anh bèn đi phượt tàu thủy. Sau khi học một khóa ngắn hạn tại trường dạy nghề Cơ Khí Á Châu (École des mécaniciens Asiatiques de SaiGon) sau mang tên Cao Thắng/Tôn Đức Thắng, anh Paul Thành (sau này lừng danh qua ngòi bút Trần Dân Tiên với tên gọi anh Ba) đến hãng tàu Chargeurs Reunis đóng trên lầu nhà Grand Hôtel de la Rotonde để xin lên con tàu Amiral Latouche Treville làm rửa bát. (Xem thêm phần Một Góc Phố Đầu Tiên trong Sound of Silence).

Đó là năm 1911.

Trần Dân Tiên cho biết anh Ba đi phượt khá nhiều nơi: Pháp, Bồ Đào Nha và các nước Châu Phi thuộc địa.

Các sách khác của học giả tây còn cho biết anh rất tiết kiệm, dành dụm được cả tiền gửi về cho cha đang lưu lạc Nam Kì. Đọc tiếp

Chuyện học sách

Phi lộ một câu: Lúc đầu định viết về học sách (học thuyết và sách lược) như một bổ túc ngắn cho bài Con đường của rồng, nhưng rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, thành ra bài viết rất dài dòng và lan man này.

I. Phần 1

Sách lược (hành động) đề cập ở đây là sách lược chính trị. Sách lược chính trị không thể đứng một mình, dù ít hay nhiều cũng phải dựa  vào các học thuyết (phát triển) kinh tế, xã hội và quân sự. Nhưng ở Việt Nam thì nói chung cái gì cũng khác.

Quay trở về quá khứ, ở ta đã có lúc học thuyết và sách lược đã có lúc bị trộn lẫn và diễn đạt ra thành lời chỉ trong một vài từ, ngắn tũn và bí hiểm.

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” tương truyền là một “học thuyết” do Trạng Trình phán ra rồi được các Chúa Nguyễn sử dụng để phát triển vương quốc, và sau này thành một đế chế rộng lớn, của riêng dòng họ mình. Từ quan điểm hiện đại, nhìn vào nội hàm của câu sấm, có thể thấy “học thuyết” này có cơ sở lý luận là “địa chính trị” / “không gian sinh tồn”. So với thời điểm ấy thì tư tưởng của Trạng Trình dạy cho chúa Nguyễn rất tiên tiến, nên nhà Nguyễn thành công cũng là dễ hiểu. Còn mục đích mà lập luận hướng tới là để “lập quốc” và “đất nước” này chỉ là để nuôi dưỡng và phát triển một dòng họ (từ đẳng cấp quan nhà Lê, lên lãnh chúa, và cuối cùng thành vua). Nó không phải là học thuyết để xây dựng một nền xã hội công bằng văn minh. Từ đó sách lược (đường lối thực hiện, hành động) của các Chúa Nguyễn cũng không vượt ra khỏi tầm vóc của “học thuyết vắn tắt” này, tuy về sau họ có phát triển học thuyết từ “khả dĩ dung thân” lên “vạn đại dung thân”.

Bây giờ nhìn lại, rõ ràng những gì chúa Nguyễn thực hiện, từ Nguyễn Hoàng tới lúc Gia Long lên ngôi đều có các đặc tính của việc một cường quốc (Đế quốc Đại Nam) hình thành thông qua mở rộng không gian sinh tồn (Friedrich Ratzel): bành trướng thông qua việc chiếm và sáp nhập các vương quốc yếu hơn, đường biên giới mềm, chỉ có giá trị tạm thời trong quá trình bành trướng. Suốt thời của các chúa Nguyễn, kể cả thời binh đao với Tây Sơn đến thời Gia Long lập quốc thì biên giới luôn mềm. Thời Minh Mạng, thậm chí đến tận thời Ngô Đình Diệm, đế quốc này còn thể hiện một đặc tính nữa theo Ratzel: Dân tộc văn minh hơn cưỡng bức các dân tộc bị thôn tính phải theo văn hóa của mình. Có thể nói nhờ tư tưởng gói gọn trong “một câu” mà Trạng Trình truyền cho mà nhà Nguyễn vượt xa nhà Trịnh về chính trị và sách lược hành động. Có thể nó cũng đi vào tiềm thức nên học thuyết Darwin xã hội sau này được ưa chuộng ở Nam Kỳ thuộc Pháp và trong nhóm các cụ Đông Du.

Tương tự như vậy  “giữ chùa thờ phật thì ăn oản” là một “học thuyết” kèm luôn “sách lược” mà Trạng Trình truyền cho cho nhà Trịnh. So với học thuyết dành cho nhà Nguyễn thì học thuyết này cũ kỹ hơn nhiều, sách lược cũng hẹp và nông hơn (chỉ để ăn). Triết lý của học thuyết này là đề cao tính chính danh (của nhà Lê) để kiếm ăn (cho họ Trịnh). Nó cũng gần gũi với triết lý dân gian “ăn cây nào rào cây đấy”. Nhà Trịnh về cuối lũng đoạn chính quyền, quân đội, tham nhũng, sống xa hoa, … đều không thoát ra khỏi triết ký của “học thuyết một câu” này.  Do sự khác biệt giữa hai học thuyết nên dù xuất phát điểm nhà Trịnh tốt hơn nhà Nguyễn nhiều lần nhưng về sau nhà Trịnh kém nhà Nguyễn cả về chính trị, kinh tế và phần nào là quân sự (bốn lần chúa Trịnh kéo quân đánh miền nam thì thua cả bốn). Nạn Kiêu Binh làm đảo lộn Bắc Hà  cũng từ cái gốc của “giữ chùa, dựng phật” này mà ra. Đọc tiếp

Ông Ba Bị, Mẹ Mìn và …

Ba bị chín quai

Ba bị chín quai mười hai con mắt, hay bắt trẻ con, gọi tắt là ông Ba Bị, là một câu nói kiểu đồng dao, thường dùng để dọa trẻ con.

Mười hai con mắt = 6 người = 1 tiểu đội (bây giờ).

Ba bị mà có chín quai = mỗi bị ba quai.

Đây chính là cách hành quân thần tốc của Tây Sơn. Mỗi tiểu đội quân chính quy (thân binh) có 6 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Mỗi nhóm có một cái bị to, có ba quai. Thiết bị, lương thực, nước uống của cả tiểu đội quăng vào cái bị ấy. Rồi cứ thế mà đi bộ ra Thăng Long. (Có thể họ đeo súng trên vai, các đồ khác mới cho vào bị, ba quai xỏ vào 2 đòn gánh loại ngắn hình chữ lambda λ, đi thành hình tam giác nhọn, một người đi trước, hai người đi sau).

Ngày xưa đường không như bây giờ, ngoài việc là đường đất thì còn phải vượt qua rất nhiều sông ngòi đầm lầy, đi bộ kiểu này là nhanh nhất. Quân Tây Sơn là quân đội phương nam (không có mùa đông), quân trang nhẹ và ít, nai nịt gọn gàng, ăn nghỉ rất khắc khổ. Khi chiếm đóng Thăng Long lần thứ nhất, người Bắc Hà rất ngạc nhiên khi quân Tây Sơn ngủ ngoài trời, trên mặt đất.

Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, quân Tây Sơn vừa hành quân vừa bắt lính ở các làng mình đi qua rất dã man. Già cũng bắt, thiếu niên cũng bắt. Ai còn khỏe và là lính thì xung quân, còn không thì làm dân công. Thanh niên ở vùng từ Hà Tĩnh đổ ra bị bắt nhiều nhất, nên dân sợ chết khiếp, từ đó hình thành câu đồng dao này (gốc gác của câu đồng dao này có thể là từ vùng Hà Tĩnh). Dần dần Ông Ba Bị thành hình ảnh đe dọa trẻ con.

Ông Ba Bị dùng bạo lực bắt người, khác với Mẹ Mìn là dụ dỗ lừa người. Mẹ Mìn  xuất hiện ở nông thôn Miền Bắc thời kỳ Pháp mộ phu đi Sài Gòn, đi Tân Thế Giới này nọ. Mẹ Mìn dụ dỗ thanh thiếu niên lên Hà Nội rồi bắt bán cho bọn buôn người, rồi bọn này bán cho các sở mộ phu. Các bọn lừa phụ nữ bán sang Trung Quốc bây giờ chính là “mẹ mìn” hiện đại. Nguồn gốc của việc buôn người, có thể có từ thời Trần. Vào thời Trần có thể đã hình thành một thị trường buôn nô lệ, bao gồm buôn bán tù binh Chăm .

 

SlowHand Đọc tiếp

Chuyện leo cây và nước ta lớn hay nhỏ

Hôm rồi đi uống bia với Lệ Ngưng, cựu ca sĩ văn công quân đội, nàng bảo: nước mình bắt chước cũng không nên thân, cách mạng ô thì ra cách mạng cây.

Bia đang vui, không tiện hỏi nàng nói chữ cách mạng theo nghĩa nào. Cách mạng theo nghĩa ông cụ giải thích là cách cái mạng nó đi, thì đúng là chặt cây rồi.

Lại nhớ đến ngày xưa có chú bé làm tập làm văn, đề bài tả ông ngoại. Chú viết: Ông ngoại em tóc bạc phơ, ngày nào cũng leo cây thoăn thoắt.

Cô giáo phê: người già không thể leo cây. Chú bèn giơ tay phản đối: Tại cô không đọc chú thích của em, chú thích nói “bà ngoại em tên là Cây”.

Vụ cách mạng cây này hay phết, nó cho thấy hóa ra ở Hà Nội vẫn có thể có phong trào (hoạt động) dân sự. Mở ngoặc chút, hoạt động dân sự nói đến ở đây có khuôn khổ rất nhỏ: người dân đấu tranh với chính quyền bằng các biện pháp dân sự (cộng đồng) để bảo vệ các quyền dân sự có tính cộng động của mình. Và họ thắng, chính quyền thua. Hay phết.

Hà Nội có một cái rất đặc thù: thời chiến tranh, thời tem phiếu, thời phân phối, thời xin cho kéo dài quá lâu nên chính quyền quen thói thô lỗ thích làm gì thì làm, quên mất dân có rất nhiều quyền dân sự được pháp luật và hiến pháp bảo vệ. Dân thì tệ hơn, vì quen với việc cúi đầu nghe chính quyền, người dân không những quên những quyền đương nhiên của mình, và quên mất cách đấu tranh dân sự.

Đấu tranh dân sự khác hẳn các đấu tranh khác: trong đó không có lòng căm thù, không sử dụng các biện pháp thô bạo. Mà hai cái món căm thù và phương pháp bạo lực này được giáo dục và tuyên truyền tiêm vào não nhân dân mấy thế hệ qua. Nay có vẻ như, ít ra ở HN, đấu tranh dân sự đã quay lại.

Nhưng vẫn có gì đó đáng lo ngại. Nếu xã hội, cộng đồng tự nó trưởng thành, tự nó cứng cáp, thì các hoạt động dân sự của nó mới thực sự vững chắc và không lạc lối. Ngày xưa công chức, giới có của Hà Nội thời Trần Trọng Kim đã từng có những hoạt động dân sự rất oách. Không ngờ Việt Minh, một lực lượng bên ngoài cộng đồng lợi dụng xoẹt một phát lấy luôn Cách mạng tháng 8 về tay mình. Ở Sài Gòn thì ở đâu hiện ra Trần Văn Giàu nhận luôn cách mạng ở SG là của mình hehe, bọn trí thức tổ chức cách mạng ấy, sau lại chả cay vãi. Hậu quả của hai vụ này, thì đến bây giờ vẫn còn mệt. Mà lịch sử thì rất hay lặp lại hehehe.

Đọc tiếp

Long Nhượng Tướng Quân

Nguyễn Đức Thành có lần trả lời câu hỏi ‘Ai là nhà vua lập quốc, Nguyễn Ánh hay Nguyễn Huệ” như sau: Nguyễn Huệ có công san lấp mặt bằng, Nguyễn Ánh lập quốc.

Quả thực, đế quốc Đại Nam của Minh Mạng, mọc lên từ nước Việt Nam của Gia Long Nguyễn Ánh. Nước Việt Nam của Nguyễn Ánh được xây trên hoang tàn của ba mươi năm nội chiến. Một hoang tàn đổ nát tận gốc rễ xã hội mà di sản tồi tệ của nó còn tồn tại đến tận ngày nay. Bù lại, 30 năm nội chiến ấy đã thống nhất đất nước cả về địa lý: cao nguyên, đàng trong, đàng ngoài; cả về thể chế chính trị: cho vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài  và chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào sọt rác. Xóa bài làm lại từ đầu.

Công cuộc san lấp mặt bằng cấp quốc gia của Nguyễn Huệ bắt đầu khi ông 24 tuổi (1777), cùng Nguyễn Lữ cầm quân chinh phạt Gia Định, giết chúa Nguyễn lúc đó là Nguyễn Phúc Thuần; và rồi kết thúc năm khi ông 36 tuổi (1789) bằng chiến dịch nay được gọi là chiến dịch Việt – Thanh, đánh trong vòng 5 ngày sạch bách liên quân nhà Lê (Chiêu Thống) và nhà Thanh (Càn Long – Tôn Sĩ Nghị). Danh tướng Hứa Thế Hanh của Càn Long bị đập phát vỡ tan ở chuỗi phòng ngự Hạ Hồi – Ngọc Hồi. Hậu duệ của ông tướng này là Hứa Thế Hữu sau cũng vâng lời Đặng Tiểu Bình qua Việt Nam đánh nhau thua nhưng về nước vẫn được báo công (cách đây mấy năm báo Hà Nội Mới có bài ca ngợi Hứa Thế Hữu hết lời). Đọc tiếp