Mùa xa xứ (Ba Mùa Yêu)

Mùa xa xứ hay Ai cũng có một chốn để quay về

(Chương Áp Mái, trích từ tiểu thuyết tí hon Ba Mùa Yêu)

 

Gửi cậu Sanh,

Đã ba tháng nay tôi đợi cậu về để nói chuyện. Mà cậu vẫn biệt tăm. Có người quen nói vẫn thấy cậu thi thoảng ghé vào Sở, nhưng tôi cũng không dò hỏi tiếp, sợ cậu bị liên lụy về sau.

Tôi đợi cậu về chỉ để gặp rồi nói mấy lời. Nói mấy lời thôi, bởi ánh mắt cậu nhìn tôi từ ngày anh Học bị bắt, làm tôi day dứt.

Nay anh Học chết rồi. Anh Ký cũng đã chết. Anh Trân đi đày Côn Đảo không biết khi nào trở về.

Cả ông Trường nữa, tôi nghe tin đã về Sài Gòn cũng đã chết ở Sài Gòn.

Còn tôi biết chỉ vài ngày nữa mật thám sẽ bắt tôi. Họ đã dò ra được cái bản vẽ sơ đồ làm bom mà tôi chỉ cho Ký.

Điều an ủi duy nhất với tôi lúc này, là họ sẽ không đánh tôi như đánh những người tình tình nghi khác trong Sở Cẩm Hàng Trống. Các anh đã chết cả rồi, anh Trân bị đi đày, họ không còn phải tìm thêm ai nữa.

Tôi quyết định viết cho cậu sau khi nghe tin ông Trường chết. Từ từ tôi sẽ viết để cậu hiểu rõ hơn. Nhưng tôi phải phân trần ngay với cậu vì sao tôi nhắc đến ông Trường. Ở Pháp, ông Trường là người mở mắt cho tôi về nỗi mất tự do của người dân thuộc địa. Ở Hà Nội, anh Học là người khuyến khích tôi hành động.

Tôi gặp ông Trường ở Công binh Xưởng Toulouse. Đó là năm 1916. Năm đó ông Trường vừa được Pháp cho ra tù, ông nhập ngũ và làm thông ngôn cho lính Đông Dương ở công binh xưởng. Tôi lúc này mới ra khỏi quân y viện lính Annam đặt ở trung tâm huấn luyện lính Saint Rafael gần Marseille. Khác các anh em lính thợ, tôi biết một chút tiếng Pháp, thậm chí mấy người Tây ở Hà Nội còn khen tôi nói tiếng Pháp đúng mẹo. Khi gặp ông Trường, ông ấy hỏi tôi có biết Cuốc Ngữ không, có biết Le Nôm không, Le Chinois không. Tôi bảo ông Trường là tôi đọc được cả. Ông Trường bảo, ”Anh lên giúp việc cho tôi.“ Ông Trường làm thông ngôn, nhưng hay viết đơn giúp lính Annam. Tôi hầu ông Trường việc ghi tên họ, quê quán người ta bằng chữ Cuốc Ngữ. Tên tôi cũng là do ông Trường cũng khuyên đổi. Ông bảo, ”Tên Trúc, người Tây khó gọi.“ Sau đó tôi lấy tên Trúc Tâm. Gọi là Tâm cho dễ.

Ông Trường dạy thêm tôi tiếng Pháp. Dần dần ông nói chuyện nhiều với tôi,lúc đó tôi vỡ lẽ chuyện ông mới được ra tù rồi đăng lính và chuyển đến Toulouse. Ông bị người Pháp bắt đi tù vì ông có quốc tịch Pháp, sống ở Pháp mà lo chuyện ở tận Đông Dương. Ông Trường bị bắt vì lập ra hội ái hữu La Fraternité des compatriotes10, có liên lạc mật thiết với ông hoàng Cường Để và Phan Châu Trinh. Ông Cường Để chống Pháp ở Bắc Kỳ ít người biết, nhưng trong Nam Kỳ, lúc tôi đi qua có nghe người ta nhắc tới. Sau này, quãng năm 1919, lúc tôi chuẩn bị rời Thessaloniki bên xứ Macédonie thì tôi có nghe ông Trường tham gia nhóm ký tên trong Revendications du peuple annamite11.

Hình như tôi hơi lan man. Để tôi viết lại cho có đầu đuôi, cậu theo cho dễ.

Tôi vẫn nhớ cái đêm mùa thu gió đã bắt đầu mang theo lạnh giá, tôi bắt gặp một người trẻ đang ngồi đợi cậu Sanh ở cầu thang. Cái cầu thang gỗ đẹp đẽ có tay vịn bằng đồng sáng bóng mà cậu Sanh hay nói, “Phải là thợ Tây Ban Nha qua đây mới làm được cái tay vịn thanh lịch và chắc chắn đến dường này.“ Hôm ấy tâm thần tôi hơi bấn loạn, tôi vừa làm thông ngôn cho một vụ tra khảo tình nghi làm chính trị ở Sở Liêm Phóng. Lúc tôi bước lên thang thì nhìn thấy người trẻ tuổi. Tôi giật mình còn anh ta nhìn tôi điềm tĩnh, mắt sáng quắc, ria mép hơi rung rung khi hỏi, ”Ông là hàng xóm của ông Sanh?”

Không biết ai xui khiến, tôi buột miệng nói với con người trẻ tuổi ấy, ”Ông đợi cậu Sanh có khi lâu. Tôi có ít dồi và rượu vang, mời ông ghé.”

Chắc cậu Sanh nhận ra người đó là anh Học. Anh Học không biết uống rượu, chỉ ăn dồi. Chai vang ngon tuyệt ấy, mình tôi uống hết. Anh Học không để ý đến bản sao bức tượng Nụ hôn Vĩnh cửu của Rodin mà tôi để trên bệ sưởi. Anh ấy khác cậu, cậu thứ lỗi nếu nhận xét có gì sai quấy. Anh Học chú ý đến tấm ảnh tôi chụp cùng đám lính Đông Dương và một cô gái Âu. Ảnh chụp trước cửa một căng tin có tên là Quán Giọt Cà phê của các phu nhân Ăng-lê. Trên tấm ảnh ấy cậu nhìn kỹ vẫn đọc được dòng chữ: Cantine de Dames Anglaises: La Goutte de Café.

Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm, trẻ như cậu Sanh, anh Học. Tôi đang chán gia đình, thi vào đại học Đông Dương thì e không đủ sức. Lúc đó nghe Hoàng đế Duy Tân kêu gọi người Annam đi lính cho Đại Pháp: “’Vào ngày Đại Pháp ca khúc khải hoàn, những người lính tình nguyện các người sẽ được triều đình trọng thưởng.“ Rồi Phan Chu Trinh ở Pháp cũng nói: ’Tôi muốn thấy người Việt Nam đổ máu cùng những người Pháp và xả thân bên những người dân chính quốc để sau này họ sẽ nhiệt tâm giúp đỡ người dân Đông Dương.’ Ngoài đường người ta treo các affiche in màu vàng rất đẹp, mộ lính đi đánh nhau với quân Đức ở châu Âu. Vào lính, nhà nước bảo hộ trả cho gia đình ba đồng một tháng, người lính nhận lương theo tuần, mỗi ngày được khoảng ba hào. Nhà tôi không thiếu tiền, nhưng châu Âu là chỗ tôi muốn đến để mở mang tầm mắt. Tôi đến Tòa Đốc lý Hà Nội đăng lính.

Tôi nhớ cái ngày tôi khám lính xong, người ta đưa tôi “cai ao“. Tôi mặc ngay cái áo, không cài khuy, khoe ra dấu hiệu được đăng lính vẽ bằng mực nhũ trên ngực, rồi cứ thế đi bộ về quán La Baionnette quen thuộc của tôi và cậu. Lúc bấy giờ quán mới khai trương được một quãng thời gian. Lão Céleste quen thân tôi từ ngày tôi làm cho báo Indochinoise. Những năm ấy Céleste chưa mập nhưng ham tán chuyện không kém bây giờ là mấy. Céleste làm lính pháo thủ đóng trong thành từ rất lâu rồi. Mỗi Chúa nhật anh lính pháo thủ Céleste cùng bạn bè được xả trại. Thời đó nhà nước chưa làm xong đường xe trạm nối từ Thành vào khu Nhượng Địa, các chàng pháo thủ cưỡi mấy con la gầy trơ xương lọc cọc đi từ cổng Thành trên đường Carnot, qua khu phố ta, để đến Paul Bert. Nơi góc phố Paul Bert và Henri Riviere có quán giải khát Coq d’Or rất được dân Tây ưa thích. Céleste ngồi đấy suốt các cuối tuần để tìm cách làm quen các cô đầm trẻ. Suzanne là một cô đầm hay ghé quán mỗi chiều chủ nhật, Céleste xiêu lòng và ở lại Bắc Kỳ vì cô. Mẹ Suzanne là chủ một ổ gái Pháp được đám sĩ quan trẻ rất ưa chuộng ở Chanceaulme phía gần ngã tư với đường Wiellé, nên Suzanne tiêu tiền như nước. Céleste bắt đầu tìm cách kiếm thêm. Anh lấy lũ la kéo pháo ra khỏi thành mỗi cuối tuần để vận tải thuê cho tờ Revue Indochinoise. Ba bốn con la chở các túi báo lặc lè trên lưng đi từ xưởng in của Francois Schneider trên Hồ Tây, về tòa soạn ở đối diện Hanoi Hôtel trên Paul Bert. Suzanne cũng bỏ rơi Céleste chỉ sau một mùa hè để chạy theo một tay sĩ quan già. Còn Céleste thất tình gái lai mà phải lòng Hà Nội. Céleste ở lại và mở quán Lưỡi Lê.

Bọn tôi lên tàu từ Sáu Kho ở Hải Phòng, vào Sài Gòn nhận thêm người rồi đi tiếp. Lính đông hơn cả là dân Trung Kỳ, bọn Nam Kỳ ít nhất. Nhà nước bảo hộ tuyển người rất kỹ, chúng tôi ai cũng cao bằng nhau, vai rộng như nhau. Sau ba tháng ở trại huấn luyện Thủ Đức, đám lính Annam do cảnh binh kèm cặp nhìn đã ra dáng lắm. Ngày lên tàu, nhìn từng tốp lính đầu đội nón lá, tay cầm quạt, đeo tay nải leo cầu thang gỗ chênh vênh lên tàu cứ đều tăm tắp, sướng mắt lắm cậu Sanh ạ.

Tàu trên biển rất lâu. Ròng rã mấy tháng. Tôi nghe nói đi vòng qua Djibouti đón lính Phi rồi mới đến Marseille. Lính Annam chết nhiều vì lị và thương hàn. Lúc qua Biển Đỏ, trời nắng mấy ngày, nhiều người chết hơn mấy tuần trước. Chúng tôi được dặn giữ nề nếp. Có ai chết ngay trước mắt thì mình vẫn phải cứng lòng. Tôi nhớ có đám lính từ Nga Sơn, khoảng hơn chục anh chàng, cứ nghêu ngao hát La Marseillaise mà họ tự đặt lời local: “Hỡi đám trai tráng Annam dũng cảm, đây là cơ hội lập công, hãy nắm lấy bằng cách tuốt gươm giết bầy lang sói.”

Đến Marseille, bọn tôi được chỉ huy Pháp cho đổi quân phục. Nón lá họ phủ thêm lớp vải họ gọi là khaki. Họ phát cho chúng tôi đôi ghệt cao cổ. Tướng Claudel hạ lệnh phát cho chúng tôi “cai quan“ nữa. Cái quần là quần như lính Pháp nhưng không có cúc, lại có dây giải rút. Tướng Claudel còn chỉ dẫn đầu bếp nấu cơm kiểu Annam, quân đội mở cả xưởng nước mắm để phục vụ lính Đông Dương. Họ làm như thế chắc để an lòng đám lính thuộc địa châu Á.

Tôi ở Marseille chẳng bao lâu, nên mỗi cuối tuần được ra phố tôi đều cố đi thăm thú. Cửa hiệu của họ rất to, to hơn của hàng Godard ở nhà mình. Người Pháp lịch sự, họ không sợ mấy thầy Cẩm như ở ta. Tôi cứ ngạc nhiên mãi.

Tôi đi biển cả chuyến đi dài không mệt mỏi gì, mà đến trại tập lính Saint Raphael thì tôi ngã bệnh. Đó là những ngày nhớ lại vẫn thấy còn êm ái. Các quý cô người Anh làm khán hộ trong quân y viện lính Annam dịu dàng nhân ái lắm. Có cô Brett rất tử tế với tôi. Người phụ nữ đầu tiên tôi nắm tay trong đời là cô Brett. Tôi nhớ mãi buổi sáng thứ Bảy hôm ấy. Lúc đó trời cuối đông nhưng ấm áp, tôi bỏ lại trong quân y viện cái áo khữ lanh chống rét mà quân đội cấp, mặc cái áo trần bông không cổ mang đi từ quê nhà, mặc cùng với ’cai quan‘. Cô Brett khen tôi gọn gàng hiền lành. Cô bảo tôi đừng rụt rè như phụ nữ. Rồi cô dắt tôi ra căng tin của các quý cô Ăng-lê. Cô phục vụ rời bàn sau khi đặt lên bàn cho chúng tôi hai cốc cà phê và lọ sữa. Rồi cô Brett cứ cầm cái vỏ bao diêm mà xé. Thế rồi tôi với tay qua bàn cầm lấy tay cô ấy.

Rời Saint Raphael, tôi được chuyển đến công binh xưởng Toulouse. Tôi vốn khéo tay nên được phân vào nhóm thợ mộc. Các lều trại cho công binh là do nhóm tôi dựng. Nhưng làm mãi cũng hết việc, mà tôi cũng muốn đi nơi khác để thăm thú. Thế là tôi xin đi công xưởng làm đạn pháo ở Le Havre. Lính thợ Annam xếp hàng ở ga rồi lên tàu hỏa. Tàu hỏa bên đó sang lắm. Mỗi voiture có mấy cửa ăn thẳng vào các buồng riêng. Ngồi chưa ấm chỗ thì viên đội người Pháp gọi tôi xuống. Đơn xin đi Havre của tôi bị bác vào phút chót. Do biết tiếng Pháp, tôi phải điều chuyển qua tiểu đoàn Annam làm việc cho Hồng Thập Tự ở Macédonie.

Thế là từ tháng Năm năm 1916, tôi có mặt ở Thesaloniki vùng Macédonie, cũng là lúc tôi chính thức bước chân vào đại chiến thế giới. Các tiểu đoàn lính Đông Dương được biên chế vào L’Armée française của tướng Louis Franchet d’Espere. Lính Annam sát vai chiến đấu cùng lính Anh, lính Nga, lính Ý và Hy Lạp. Kẻ thù của chúng tôi ở mặt trận Macédonie là lính Bulgarie, đồng minh của quân Đức.

Tháng Năm năm 1916, gần một ngàn thanh niên Annam đội nón phủ vải khaki hành quân bộ vào Thesaloniki. Chúng tôi đi hàng hai, chân đi giày cao cổ, nhịp bước đều trên những con phố nhỏ lát đá, nhà hai bên san sát, mái lợp ngói đá xanh rất thanh bình. Đó là mùa hè xa xứ đầu tiên của tôi, một gã trẻ tràn đầy hạnh phúc với tình yêu của cô gái Anh Quốc và ham muốn tìm hiểu thế giới mới mẻ xung quanh. Đó cũng là lần hành quân cuối cùng chúng tôi đội nón. Ở Macédonie người ta thu hết nón và quạt giấy, rồi họ phát cho chúng tôi mũ beret.

Những người lính Annam nhờ tôi viết thư về nhà thường kể: “Ở đây chúng con chơi trò chiến tranh với những quả bóng biết bay to đùng ở trên đầu.“ Tôi thường phải giải thích cho họ đấy là những quả bóng thám không có người điều khiển. Ngay cả tôi cũng tò mò về những chiếc máy bay. Tháng Bảy năm ấy, ở ngoại ô Thesaloniki, người ta làm lễ rửa tội cho những chuyến bay quân sự đầu tiên của tướng Sarrail, tôi được chọn làm người phụ lễ. Đấy là lần đầu tiên tôi đến gần một chiếc tàu bay.

Cũng năm đó, tập đoàn quân Phương Đông của tướng d’Espere không tham chiến nhiều. Hồng Thập Tự chúng tôi nhàn hạ với việc chăm sóc người tị nạn Serbie nên họ gọi chúng tôi đến sân bay để làm lính thợ.

Ở sân bay ngoại ô, tôi bắt đầu học thêm nghề điện và cơ khí, một nghề giúp tôi rất nhiều vì mấy tháng sau tôi được giao vào đơn vị chế tạo mìn và gài mìn xung quanh cứ điểm Topsin ở phía bắc Thessaloniki. Khi chúng tôi nhận nhiệm vụ Topsin thì đã vào tháng Giêng năm 1917. Tiết trời ban đêm rất lạnh, tôi vẫn nhớ mình phải bò thử trên nền đất cứng để thăm dò khả năng kẻ thù chạm vào kíp mìn.

Đến đây chắc cậu Sanh cũng đoán ra phần nào câu chuyện anh Học nói với tôi.

Từ tháng Bảy năm 1917 đến tháng Mười năm 1918, để thay thế một tiểu đoàn Hy Lạp, một tiểu đoàn Pháp, trong đó có trung đoàn Bắc Kỳ số 2, bắt đầu tham chiến ở hồ Malik, rồi Okrida và cuối cùng là tiến quân vào vùng Selce. Ở đây lính Annam đánh nhau với quân Áo. Thương binh rất nhiều nên tôi được điều trở về Hồng Thập Tự. Quân Ý đến hỗ trợ chúng tôi nhưng cuối cùng tất cả vẫn phải rút lui về Mecan và cố thủ ở đó. Tôi được chuyển đến đơn vị vẽ sơ đồ gài mìn và kiểm tra trận địa mìn trước khi rút quân.

Tôi vẫn nhớ như in đêm cuối cùng trước khi rời Selce về Mecan. Nằm trong lều bạt trên nền đất lạnh tôi không ngủ được. Đơn vị pháo đang rút quân, tiếng các con la kéo xe pháo phì phò thở lẫn trong tiếng bánh xe lọc cọc trên đường đá. Tiếng pháo đêm nổ phía bên kia sườn đồi, quân Áo bắn vào các hào lũy không còn lính Pháp. Trong tiếng ầm ì của đêm chiến tranh ấy, tôi nằm thao thức trên đất lạnh, nghĩ đến Brett và cơ thể của cô. Trong cái đêm tuyệt diệu ấy, Brett khoe cơ thể đẹp đẽ trần trụi của mình, nằm sấp trên giường trải ga màu trắng. Hơi ngước mắt nhìn tôi mơ màng nhắc đến hồi cô được làm người mẫu cho một họa sỹ tên là Schiele lúc Hồng Thập Tự gửi cô sang chăm sóc cho tù binh Nga ở Muhling. Ký ức ấy khiến tôi, lần đầu tiên, sợ hãi cái chết. Cái chết chậm chạp nhưng ồn ào đang bò sát đến chỗ tôi nằm. Càng sợ chết tôi càng nhớ Brett. Quấn mình trong áo khữ lanh bằng dạ, tôi như nghe thấy hơi thở dồn dập của cô ở bên tai. Cô Brett nhỏ nhắn và xinh đẹp, đến viên bác sỹ chỉ huy quân y viện gặp cô còn ấp úng không nói lên lời. Cô gái Ăng-lê thanh nhã mà người ta xì xầm vốn là một phu nhân bỏ Luân Đôn tình nguyện làm y tác và bước vào cuộc chiến tranh như đi dự một phiên chợ phù hoa.

Đến tháng Hai năm 1919, tôi bị thương và được đưa trở về Quân y viện Annam ở Saint Raphael. Brett đã rời đi trước đó hai tháng, cùng một sĩ quan bảnh trai có họ là Foucault. Tháng Sáu năm đó, lúc nằm viện, tôi được đọc Revendications du peuple annamite của Nguyễn Ái Quốc. Sau này tôi mới biết ông Trường có tham gia ký thỉnh nguyện thư.

Nằm trong quân y viện tôi chỉ nghĩ đến Brett. Mới chỉ hai năm mà như đã xa xôi lắm. Ngay lúc này đây, khi viết lá thư này, kỷ niệm vẫn gợi nên nỗi bồi hồi trong lòng tôi. Brett dẫn tôi đi xem phim, rồi lần đầu tiên tôi biết cảm xúc của việc trai gái đặt lên môi nụ hôn. Khoảnh khắc ấy với tôi là vĩnh cửu. Tôi vẫn nhớ gương mặt cô trong cái đêm trước khi tôi chuyển đi Toulouse. Gối đầu lên đùi tôi, gương mặt cô nhẹ nhõm hiện lên trong ánh diêm cô châm thuốc lá. Thổi nhẹ cho diêm tắt, bóng tối mát lạnh khẽ trùm lên hai cơ thể ấm áp đang rã rời một cách dịu dàng vì yêu đương, cô nói, “Hai chúng ta đang có những mùa lưu lạc xa quê hương, nhưng vì thế mà hai chúng ta ai cũng có một chốn để quay về.”

Tôi đã quay về, với Brett trong tim. Tôi cứ sống đơn độc ở Hà Nội với bức ảnh chụp cùng Brett và bản sao bức tượng của Rodin.

Về Hà Nội một thời gian tôi nghe tin ông Trường bỏ Pháp về Sài Gòn, mở báo La Cloche Fêlée12 cùng với ông Ninh. Ở Hà Nội mua báo ấy khó lắm. Tôi nhớ quãng tháng Hai năm 1928 thì báo bị đình bản, ông Ninh đi Côn Lôn còn ông Trường bị đưa về Pháp rồi bỏ vào nhà lao bên đấy. Trước đó mấy tháng tôi gặp ông Học ở cầu thang.

Thế rồi buổi chiều hôm ấy, rượu vang và những gì anh Học nói đã hun đúc thêm trong lòng tôi những lời dạy của ông Trường. Rồi những giản đồ làm mìn và trái phá cứ hiện dần lên trong óc tôi. Có cái gì đó thôi thúc tôi vẽ chúng ra giấy: sơ đồ chế tạo mìn và bản đồ các trạm hiến binh ở Hà Nội.

Người ta đã tìm thấy những bản vẽ ấy ở chỗ anh Ký. Cách đây mấy hôm tôi đã thấy nó trên bàn ông chánh Sở Mật thám Bắc Kỳ. Họ sẽ sớm tìm ra người vẽ những bản đồ này.

 

Cậu Sanh ạ, tôi tin cậu vẫn còn sống. Ánh mắt nghi ngờ của cậu nhìn tôi từ ban công mỗi rạng sáng, khi tôi trở về nhà, vẫn ám ảnh tôi. Anh Học chết rồi, Ký cũng chết, ông Trường cũng đã chết. Anh Học, Ký đều chết dưới lưỡi dao máy chém mà nước Đại Pháp sáng chế ra. Điều đó làm lòng tôi đau xót. Rồi sắp tới đây thôi, Hội đồng Đề hình cũng sẽ kết tội tôi án chém.

Tôi viết cho cậu chỉ để cầu mong rằng: Trước khi giã từ thế gian đẹp đẽ này, tôi không còn bị ám ảnh bởi ánh mắt nghi ngờ của cậu nữa. Với riêng tôi, cuộc đời tươi đẹp này là một lý do tốt để sống, cũng là một lý do tốt để chết.

Tôi tin là cậu Sanh chưa chết. Lúc này đây, chắc cậu Sanh đang có mùa lưu lạc của riêng mình. Lưu lạc rồi mới thấu hiểu tự do. Lưu lạc rồi mới thấy ai cũng có một chốn để quay về.

—-

10 Hội đồng bào thân ái

11 Thỉnh nguyện thư của dân tộc Annam.

12 Tờ Chuông Rè.

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
This entry was posted in sách and tagged , , , . Bookmark the permalink.