Người truyền cảm hứng cho Ông Cụ

Giành độc lập được mấy hôm, Trần Dân Tiên (có lẽ là một nhóm, trong đó có hai vị họ Trần thực sự là Trần Huy Liệu và Trần Ngọc Danh) viết ngay một cuốn sách về cuộc đời ông cụ.

Chương I của cuốn sách nói về cậu thiếu niên tên Thành. Ở tuổi mười mấy, anh Thành đã có ý định đi tìm đường cứu nước.

Con người ta lúc thành công thường nói rất hay về khúc khởi đầu của họ.

Việc xuất dương của anh Thành có thể do hoàn cảnh gia đình (các biến cố trong gia đình, cuối cùng là người cha mất việc) cộng với cảm hứng từ phong trào Đông Du.

Thế nhưng khi anh tới Sài Gòn thì Nhật đã cấu kết với Pháp, dập tắt Đông Du.

Không còn sự lựa chọn nào khác, anh bèn đi phượt tàu thủy. Sau khi học một khóa ngắn hạn tại trường dạy nghề Cơ Khí Á Châu (École des mécaniciens Asiatiques de SaiGon) sau mang tên Cao Thắng/Tôn Đức Thắng, anh Paul Thành (sau này lừng danh qua ngòi bút Trần Dân Tiên với tên gọi anh Ba) đến hãng tàu Chargeurs Reunis đóng trên lầu nhà Grand Hôtel de la Rotonde để xin lên con tàu Amiral Latouche Treville làm rửa bát. (Xem thêm phần Một Góc Phố Đầu Tiên trong Sound of Silence).

Đó là năm 1911.

Trần Dân Tiên cho biết anh Ba đi phượt khá nhiều nơi: Pháp, Bồ Đào Nha và các nước Châu Phi thuộc địa.

Các sách khác của học giả tây còn cho biết anh rất tiết kiệm, dành dụm được cả tiền gửi về cho cha đang lưu lạc Nam Kì.

Quãng 1913-1915 anh sống ở nước Anh. Ở nước Anh, Paul Ba tiếp tục làm nghề lao động phổ thông.

Trong thời gian ở Anh, chàng thanh niên thuộc địa, suốt ngày lao động chân tay, đột nhiên biết tiếng Anh và am hiểu tình hình chính trị thế giới cùng với những nhận định sắc xảo (xem thư Nguyễn Tất Thành từ London gửi cho Phan Chu Trinh ở Paris).

Tôi tin rằng khi ở nước Anh, đã có ai đó vỡ lòng cho anh Ba không chỉ môn tiếng Anh mà còn về Cách mạng Mỹ (thuộc địa Anh giành độc lập, đồng thời xóa bỏ chế độ quân chủ), về quyền con người. Người này có lẽ còn dạy anh Ba nghề báo và hướng anh Ba đi theo con đường hoạt động chính trị chuyên nghiệp.

Giai đoạn ở nước Anh  rất quan trọng trong chuyển biến tư tưởng của anh Ba. Trước khi  đến Pháp  và gia nhập nhóm của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, anh Ba  rời nước Anh đến nước Mỹ (1916).

Ở Mỹ, anh Ba đã tham dự các hoạt động chính trị của người da màu. Vốn tiếng Anh của anh Ba đã đủ tốt để anh học hỏi các phương pháp đấu tranh và vận động quần chúng từ Marcus Mosiah Garvey.

Garvey, một nhà hoạt động nhân quyền cho người da đen đi từ Jamaica đến New York vào tháng 3 năm 1916, thường thực hiện các buổi diễn thuyết trên đường phố New York vào buổi tối. Anh Ba chắc chắn đã đến nghe. Những kỹ năng diễn đạt với công chúng bình dân thu thập từ New York về sau giúp anh Ba rất nhiều trong hoạt động chính trị và làm cách mạng.

Đang ở Mỹ, nghe tin Cách mạng Nga thành công, anh tìm cách quay về nước Pháp.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi đến Pháp (1919) và gia nhập nhóm Phan Văn Trường, anh Ba đã nỗ lực trở thành một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và nổi bật.

Mấy chục năm sau nữa, dấu ấn của Cách mạng Mỹ và quyền con người đã xuất hiện ngắn ngủi nhưng rõ nét trong Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tình cảm với Cách Mạng Mỹ trong lòng anh Ba còn ẩn dấu trong những nỗ lực tiếp cận quân đội Hoa Kỳ ở Côn Minh thời tiền khởi nghĩa (xem thêm Trong Vỏ Hạt Dẻ Phần 2).

Mặc dù tài liệu trong tay chưa đủ lắm, tôi vẫn cho rằng, người vỡ lòng cho anh Thành tiếng Anh, Cách Mạng Mỹ, Quyền Con Người … là một thanh niên miền nam, trạc tuổi anh Ba, giỏi giang và yêu nước. Người thanh niên ấy theo hồ sơ mật thám có tên (giả) là Joseph hoặc Thành, còn tên thật (tôi đoán chắc) là Nguyễn Háo Vĩnh. Không chỉ là một người anh em, một mentor cho anh Ba, chàng trai trẻ Nguyễn Háo Vĩnh còn tìm cách ghi danh cho cả hai (như hai anh em ruột Paul Thành và Joseph Thành ) vào học tại London Polytechnic trên phố Regent (nay là University of Westminster).

Phong trào Duy Tân có hai cơ sở quan trọng ở miền nam là Hội khuyến học Cần Thơ và công ty Minh Tân (Nam Kì Minh Tân Công Nghệ Xã) của nhà tư sản Gilbert Trần Chánh Chiếu (cũng là chủ bút Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn).

Công ty Minh Tân tuyển người đưa sang Nhật học nghề, bản chất là đào tạo cán bộ cho Đông Du. Nguyễn Háo Vĩnh sinh năm 1893 (kém anh Ba vài tuổi) có mặt trong nhóm đi Nhật đầu tiên (1905), và là người giỏi nhất. Ở Nam Kì, hoạt động của Trần Chánh Chiếu bị mật thám Pháp phát hiện. Pháp thỏa thuận với Nhật để Nhật trục xuất du học sinh của Đông Du về lại Đông Dương. Bố của Nguyễn Háo Vĩnh cũng là lãnh đạo Đông Du miền nam, nhanh tay rút Nguyễn Háo Vĩnh về Hongkong để tránh bị bắt, đồng thời  cho học tiếp tại Saint Joseph Hongkong.

Lúc này hoàng thân Cường Để cũng phải rời Nhật (trục xuất năm 1909). Đi vòng vèo qua Trung Quốc, Hongkong, đến năm 1913 Cường Để bí mật về Nam Kì. Giữa năm 1913 Cường Để trốn qua Hongkong. Chỉ một thời gian ngắn sau đó (tháng 6 năm 1913), cơ sở của Đông Du ở Hongkong bị cảnh sát Anh bố ráp do xưởng sản xuất vũ khí để nổ tạc đạn. Cường Để bị bắt giam vài ngày, sau đó nhờ Nguyễn Háo Vĩnh thuê luật sư mà thoát ra được và đi London. Các đồng chí khác cũng được thả và trục xuất về Nam Kì. Riêng Huỳnh Hưng, chủ nhà mà Đông Du sử dụng làm cơ sở, nhận hết tội về mình nên bị kết án chín tháng tù.

Sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Háo Vĩnh dùng tên giả trốn sang London tìm Cường Để. Trong thời gian ở đây anh đã gặp và kết bạn với anh Paul Thành. Năm 1916 khi Thành đi Mỹ còn sau khi nhận bằng cử nhân ngôn ngữ Háo Vĩnh trở lại Hongkong, rồi bị bắt ở đây và đưa về Nam Kì. Tòa án Sài Gòn kết Háo Vĩnh án tử hình, sau được tổng thống Pháp ân xá. Về quê ở với bố là Nguyễn Háo Văn một thời gian, đến năm 1923 Nguyễn Háo Vĩnh lại ra Sài Gòn làm báo và xưởng in. Năm 1928 còn anh còn bị bắt một lần nữa vì tội in truyền đơn.

Cũng thời gian này, Gilbert Trần Chánh Chiếu bị Pháp bắt hai lần, năm 1908 (do có quan hệ với Đông Du) và năm 1917 (do tài trợ cho Phan Xích Long).  Trần Chánh Chiếu cũng tham gia dịch văn học (dịch Dumas) và sáng tác (truyện Lâm Kim Liên).

Từ khi lên Sài Gòn làm báo cho đến cuối đời, Nguyễn Háo Vĩnh làm chủ báo Nam Kì Kinh Tế Báo và Hoàn Cầu Tân Văn; làm chủ xưởng in Xưa Nay. Vốn thạo tiếng Anh, ông đã dịch sang chữ quốc ngữ kịch của Shakespeare (Hamlet, Romeo Juliet …), viết sách khoa học thường thức (Cách vật trí tri, Càn khôn lý học sơ giải …), viết sách lịch sử thế giới (Chuyện vạn quốc).

Thi thoảng máu cách mạng dâng cao, ông còn bút chiến. Hà Hương Phong Nguyệt (sách hoa tình khiêu dâm đầu tiên bằng chữ quốc ngữ) bị ông đánh dữ quá nên chính quyền Pháp phải tịch thu mà đốt đi.

Là người yêu nước và yêu Cách Mạng Mỹ, và có lẽ nhớ người bạn tên Thành từ lúc chia tay nhau qua Mỹ, đến lúc này không biết ở đâu, ông Vĩnh đặt tên con gái là Nguyễn Triệu Ẩu và Nguyễn Háo Thạnh Đốn.

Nguyễn Háo Vĩnh, nhân vật Đông Du kiệt xuất trong không gian hẹp, chết năm 1941 ở Thủ Đức. Ông cũng không biết anh Thành ngày xưa đã dựng nên ĐCS  từ tro tàn của Tâm Tâm Xã, một tổ chức phái sinh của Đông Du bên Trung Quốc. Ông không có cơ hội nhìn thấy ngày Độc Lập và người anh em thời Đông Du xa xưa của mình lên làm chủ tịch nước.

Tất nhiên Nguyễn Háo Vĩnh không bao giờ có cơ hội đọc trước tác của Trần Dân Tiên.

Một trăm năm sau khi em Vĩnh và anh Thành chia tay nhau ở London (1915-2015), hiện tượng Đông Du Miền Nam gần như đi vào quên lãng.

***

Những du học sinh đầu tiên, cũng là nhóm thanh niên Đông Du Miền Nam đầu tiên,  chủ yếu là con nhà giàu, hoặc cực giàu. Nhiều người là Minh Hương.

Hai anh em Lâm Cần, Lâm Tỷ con ông Lâm Bình nhà cực giàu. Lâm Tỷ học tiếng Anh giỏi, sau đi London làm phiên dịch cho đức Cường Để.  Cùng đi còn có Đỗ Văn Y  làm phiên dịch tiếng Đức. Sau cả cả hai phiên dịch cùng qua Đức với Cường Để.

Cảnh sát Anh nhầm Joseph Thành với Lâm Tỷ (Lâm Văn Tú). Sự thực Joseph Thành là Háo Vĩnh, sau bị bắt khi từ Anh trở về Hồng Kông.

Năm 1920, khi mật thám Pháp phát hiện ra Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Tất Thành, họ dò lại quan hệ của Thành với Đông Du ở London và đã nhầm Joseph Thành với Lâm Tỷ.

Huỳnh Hưng (Huỳnh Văn Nghi), đồng hương với hai anh em Lâm Tỷ, là người đưa các đồng chí Đông Du qua Hongkong để tổ chức kháng chiến theo kiểu bạo động, dẫn đến vụ nổ tạc đạn tại cơ sở do Huỳnh Hưng đứng tên thuê (là một tòa nhà 4 tầng lớn).

Trừ Huỳnh Hưng bị kết án ở Hongkong, các vị còn lại bị đưa về Hà Nội cho Hội Đồng Đề Hình kết án. Nguyễn Thần Hiến chết trong tù Hà Nội.

Cùng quê với Lâm Tỷ còn có Trương Duy Toản. Từ London, Cường Để đi Đức cùng Đỗ Văn Y và Trương Duy Toản để mượn Đức (như từng mượn Nhật) chống lưng đánh Pháp. Từ Đức, Cường Để gửi thư cho chính phủ Pháp, cử Trương Duy Toản và Đỗ Văn Y đi Paris gặp Phan Chu Trinh. Lúc này Pháp Đức bắt đầu đánh nhau. Phan Chu Trinh, Trương Duy Toản, Đỗ Văn Y đều bị bắt, ra tòa và kết án tù. Một số lá thư của Paul Thành gửi từ London cho Phan Chu Trinh sau khi ông này bị bắt, đã bị mật thám Pháp thu được. Sau 2 năm ngồi tù, được thả tự do, ai về chỗ cũ, Phan Chu Trinh ở lại Paris, Trương Duy Toản và Đỗ Duy Y bị đưa lên tàu chở về Sài Gòn. Sau một thời gian bị an trí ở Cần Thơ, Trương Duy Toản được Gilbert Chiếu đưa trở lại Sài Gòn làm nghề báo.

Trần Thị Quỳ, con gái Trần Phước Định, có thể coi là nữ du học sinh đầu tiên. Cô bị bắt ngay khi về đến Nhà Rồng (từ Quảng Châu, nơi lúc đó Phan Bội Châu đang sống, về Sài Gòn). Không bị kết án nhưng bị nguyệt –điểm (mỗi tháng đến trình diện một lần), cho đến năm 1913 cô tham gia Phan Xích Long thì bị bắt lần nữa. Chồng cô Quỳ là Huỳnh Hữu Chí, cũng là chiến sĩ Đông Du hoạt động ở Quảng Châu và Hongkong.

Trần Phước An đi Nhật theo Đông Du. Lấy vợ Nhật nên khi Nhật trục xuất Đông Du vẫn được ở lại. Khi Nhật đánh Trung Quốc, Trần Phước An đi theo quân đội Thiên Hoàng, tham gia thành lập Kiến Quốc Quân cùng chỉ huy Trần Trung Lập, đánh Pháp ở Lạng Sơn. Sau thất bại, một lần nữa nhờ có quốc tịch Nhật mà Trần Phước An thoát chết. Cuối cùng mật thám Pháp phải tìm cách ám sát Phước An ở Quảng Châu.

Tháng 8 năm 1916, chủ của tờ L’opinion ở Sài Gòn là Lucien Héloury mở thêm tờ quốc ngữ là Công Luận Báo. Cây bút chính của tờ này là Hồ Văn Trung, một phiên dịch công chức, và còn rất nổi tiếng với tên Hồ Biểu Chánh.

Sau Hồ Văn Trung, vốn khéo léo tránh đối đầu với chính quyền thực dân và lách kiểm duyệt, cây bút sau sau của tờ báo là Cao Văn Chánh  thường viết bài  chống chính quyền và cứng rắn hơn Trung nhiều. Cao Văn Chánh ra nhập tờ báo năm 17 tuổi. Cao Văn Chánh và Nguyễn Háo Vĩnh là hai nhà báo chính trị cứng đầu và là cặp bài trùng chống đối chính quyền Sài Gòn vào thời gian này.

Khi Công Luận Báo có xu hướng chính trị và cổ súy tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ hơn, một cây bút chính trị cứng rắn khác vốn chỉ viết tiếng Pháp là Tự Do (Huỳnh Văn Chính) về làm chủ nhiệm báo. Huỳnh Văn Chính vốn có tư tưởng nổi loạn khi còn là sinh viên Đông Dương Học Xá ở Hà Nội và bị đuổi học.

Tự Do lập tức đưa Nguyễn Háo Vĩnh lên về làm chủ bút. Công Luận Báo công khai chống lại thống đốc Nam Kì.

Tháng 11 năm 1923, Nguyễn Háo Vĩnh mua lại tờ Nam Kì Kinh Tế Báo của bà Rose Quaintanne, rồi cùng Cao Văn Chánh (lúc này 20 tuổi và làm chủ biên) biến tờ báo thành cơ quan ngôn luận chống thực dân, tẩy chay hàng của người Hoa. Nam Kì Kinh Tế Báo cũng là tờ báo đầu tiên thúc đẩy nữ quyền.

Nguyễn Háo Vĩnh và Cao Văn Chánh là thế hệ nhà báo quốc ngữ thứ hai ở Sài Gòn. Sau Gilbert Trần Chánh Chiếu, Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh), Nguyễn Chánh Sắt và Lê Hoàng Mưu (tác giả Hà Hương Phong Nguyệt), thế hệ Háo Vĩnh bắt đầu từ bỏ đường lối ôn hòa để chuyển qua phản biện chính trị với văn phong trực diện và cực đoan hơn. Đối tượng độc giả mà họ nhắm vào là những người được giáo dục cao hơn , có ý thức chính trị hơn.

Đầu những năm 1920, chính quyền thực dân ở Sài Gòn có ý định cho một tập đoàn Pháp độc quyền đầu tư và khai thác cảng Sài Gòn trong một quãng thời gian 15 năm, hai tờ báo quốc ngữ có liên quan đến Nguyễn Háo Vĩnh và Cao Văn Chánh là Công Luận Báo và Nam Kỳ Kinh Tế Báo đã phản đối quyết liệt.

Dự án độc quyền cảng Sài Gòn, còn được gọi là dự án Candelier (theo tên kiến trúc sư trưởng của dự án này) do Hội đồng quản hạt Nam Kì mà thực chất là do thống đốc Nam Kì lúc đó Maurice Cognacq rất tham lam tàn ác đứng bảo kê. Cognacq tham lam tàn ác theo nghĩa đen. Báo Pháp ngữ thời đó gọi tay này là thối nát.

Dự án cảng Sài Gòn tóm tắt như sau. Hội đồng thương cảng (Conseil du Port) là một tổ chức hỗn hợp thay mặt nhà nước thuộc địa quản lý cảng Sài Gòn. Hội đồng này  cho một tập đoàn Pháp đầu tư và độc quyền khai thác Cảng và toàn bộ hai con kênh vận tải kết nối Cảng tới vùng Chợ Lớn (Kênh Tàu Hũ, nay chính là trục đại lộ Đông Tây). Toàn bộ chiều dài kênh khoảng gần 20 km (tính cả hai bên bờ sẽ khoảng 40km). Thời gian khai thác là 15 năm. Về cơ bản, nếu được phép đầu tư, tập đoàn Pháp kia sẽ độc quyền xuất nhập khẩu cho toàn bộ nền kinh tế Nam Kì.

Báo chí Pháp ngữ và quốc ngữ chia phe chống và ủng hộ. Dần dần leo thang. Các nhóm xã hội, từ nhà báo, dân buôn, tới trí thức cũng bị chia rẽ thành hai phe ủng hộ độc quyền và chống độc quyền. Chia rẽ lan dần tới giới chính trị. Hội đồng quản hạt Nam Kì cũng bị chia rẽ vì dự án đầu tư này. Cuối cùng luật sư Paul Monin qua Pháp vận động nghị viện Pháp bác bỏ giấy phép đầu tư của Hội đồng quản hạt Nam Kì cấp cho dự án Candelier.

Cuộc chiến báo chí dữ dội xung quanh dự án độc quyền Cảng Sài Gòn đã đưa đẳng cấp báo chí quốc ngữ chống đối chính trị (đằng sau kinh tế) của  Sài Gòn lên một đẳng cấp mới. Cùng lúc nó khẳng định phẩm chất chính trị vượt ra khỏi tầm vóc thuộc địa của một trí thức du học Anh quốc trở về: Nguyễn Háo Vĩnh. Đồng thời giới thiệu cây bút trẻ Trần Huy Liệu và một ngôi sao độc đáo: Nguyễn An Ninh và tờ Chuông Rè La Cloche Fêlée (xem Trong Vỏ Hạt Dẻ Phần 1).

Từ một người hoạt động cho hội kín, Nguyễn Háo Vĩnh trở thành nhà báo chính trị ái quốc, chống thực dân bằng ngòi bút. Ở một đẳng cấp rất khác với người đương thời, ngòi bút của Háo Vĩnh chống thực dân không chỉ bằng cách gây dựng tự chủ dân tộc, thoát khỏi cái bóng Trung Hoa và hướng về Thái Tây (tức Châu Âu và trong đó có nước Anh ông đặc biệt ưa thích), mà còn đặt việc chống thực dân ở Annam vào bối cảnh và tầm nhìn chính trị quốc tế rộng lớn.

Cây bút trẻ Trần Huy Liệu bắt đầu viết cho Nam Kì Kinh Tế Báo dưới sự dìu dắt của Nguyễn Háo Vĩnh. Khi cứng cáp hơn và nổi tiếng hơn nhờ tính chiến đấu, Liệu vào Sài Gòn và làm chủ bút Đông Pháp Thời Báo (1925).

Ông Liệu này với ông Liệu ở đầu bài viết, hai ông là một.

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong nhảm và được gắn thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.