Chiếm và Giữ

Dùng bản đồ quân sự thời chiến tranh Nam Bắc 1967-1975 để đọc các sách về các map21bchiến dịch của …Nguyễn Huệ ở Đàng Trong thấy rất thích. Nói cách khác, đọc sách về các chiến dịch quân sự ở Đàng Trong của Nguyễn Huệ, ta nên dùng bản đồ quân sự của chiến tranh Việt Nam, sẽ thấy rất dễ hiểu.

Đọc các chiến dịch của Nguyễn Huệ và của các tướng bên phe Nguyễn Ánh ở vùng Gia Định, rồi đọc về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1967-1975, rồi xem bản đồ (giờ trên internet có rất nhiều), lờ mờ nhận ra: Miền Nam (nam trung bộ đổ vào) rất dễ đánh, dễ chiếm và đồng nghĩa là rất khó giữ. Quang Trung cũng thấy vậy nên không cố công mà giữ. Tất nhiên vì không bỏ công ra giữ nên Đàng Trong trở thành bàn đạp để Nguyễn Ánh lập quốc (và tất nhiên sau khi Quang Trung chết).

Cũng có thể lờ mờ nhận ra một điều nữa: vai trò của Cambodia rất quan trọng. Bình định được nước láng giếng này thì an toàn từ Cao Nguyên đến vùng biển Hà Tiên, tức là một không gian cực kỳ lớn. Đồng thời ổn định được quan hệ kiểu viễn giao với Thailand và Myanmar. Cho nên việc Việt Nam qua Cambodia lật đổ Khmer Đỏ có tác hại (khốc liệt) trong ngắn hạn, nhưng có lợi ích trong dài hạn. Đây cũng có thể là lý do mà Ngô Đình Nhu quyết lật đổ chỉnh quyền ở Cambodia bằng đảo chính mà thất bại nặng, để lại một đống tai họa góp phần đưa quân đội VNCH sau này của tổng thống Thiệu vào thế yếu. Mặc dù nhìn trên bản đồ, thấy quân đội VNCH bố trí phòng ngự đẹp ra phết, Quang Trung còn sống chắc cũng chỉ nghĩ đến thế là cùng. Nhưng mất Cambodia, và quân đội đánh đấm và phối hợp kém, rồi Mỹ ký Paris, thì  ở cái vùng dễ chiếm khó giữ này, thua mới là đúng.

Một điều lờ mờ nữa, là không chỉ quân sự mà chính trị ở Miền Nam cũng cho thấy lãnh đạo quốc gia thì tiên quyết là phải an toàn về mặt chính trị. Biến động chính trị nào cũng có thể dẫn đến hỏng việc lớn. Mà nguy hiểm chính trị có thể đến từ những ngóc ngách bất ngờ. Ở ngoài bắc, vì nhiều lý do (gần ngàn năm Tàu thuộc, rồi gần ngàn năm chịu ảnh hưởng bảo hộ của Tàu, mãi cho đến hiệp ước Thiên Tân do Pháp ký với nhà Thanh năm 1885 mới chấm dứt), lại có chính quyền hiện đại do Liên Xô đào tạo bài bản, nên chính trị rất chặt chẽ, kém tiến hóa. Còn ở miền nam, suốt từ thời Dương Ngạn Địch đến thời Nguyễn Văn Thiệu, chính trị lỏng lẻo và sôi động hơn. Thời đệ nhị cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu thậm chí khá là cởi mở với tự do đại học và hoạt động hạ viện, báo chí. Các nhân vật nổi bật ở miền nam, kể từ thời Pháp thuộc, hầu hết đều chuyên nghiệp hơn hẳn các đối thủ về chính trị, và nhờ đỏ an toàn hơn hẳn trong việc leo cao trong hệ thống.

Nguyễn Văn Thiệu là ví dụ hết sức gần. Là con một người chăn bò, nhưng Thiệu học hành tốt và chăm chỉ giúp mẹ bán hàng. Đi lên bằng con đường binh nghiệp, rồi lên đỉnh cao quyền lực nhờ các cuộc đảo chính quân sự. Ngay sau khi lên chức, tổng thống Thiệu nhận thấy việc củng cố quyền lực không chỉ đơn giản là xây dựng vây cánh trung thành mà còn cần hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Người Mỹ đã giúp Thiệu đối phó với các phe đối lập bằng các hoạt động chính trị – dân sự, nhất là họ giúp Thiệu các hoạt động dân sự – chính trị để Thiệu đắc cử tổng thống lần hai hợp pháp (nhờ đó tiếp tục được giới chính trị Mỹ ủng hộ). Thiệu chỉ ra các đòn đánh quyết liệt, sử dụng an ninh,  vào những năm cuối của cuộc chiến. Sau đổi mới, chính trị ở Việt Nam đã lỏng ra, dù nhiều lần bị xiết. Chính trị lỏng ra là rất tốt về mặt xã hội, lại cũng rất tốt ở chỗ các chính trị gia buộc phải chuyên nghiệp và khôn ngoan hơn trong môi trường cạnh tranh chính trị ngày một khắc nghiệt hơn.

Mà chính trị thực sự khắc nghiệt. Trong sách mà tác giả là các cựu nhân viên CIA hoạt động ở Đông Dương, họ nhận xét Lào là một nước dễ chịu, nhưng người Lào hận thù nhau vì những lý do người nước ngoài không thể hiểu được. Người Việt Nam không khác lắm. Người ngoại quốc nhìn vào cũng sẽ thấy người Việt sẵn sàng giảng hòa với các kẻ thù của mình, từ Tàu đến Nhật, Pháp đến Mỹ, kể cả những nước mà người Việt gọi là chư hầu tàn ác như Úc, Đại Hàn, nay họ cũng giảng hòa. Nhưng người Việt không giảng hòa được với người Việt nếu giữa các bên có xung đột, hoặc đã từng xung đột, về quyền lực và chính trị. Cờ vàng và cờ đỏ sau nửa thế kỷ vẫn có thể cắn nhau đến chết. Ngày xưa: Nguyễn Ánh lên ngôi là trả thù Quang Trung (dù đã chết) rất tàn nhẫn, phi nhân tính; Minh Mạng lên ngôi là trả thù Lê Văn Duyệt; đảo chính lật được tổng thống Diệm, anh em tổng thống đã đầu hàng, vẫn bị giết rất tàn bạo và phi pháp.

Ngày nay người ta chỉ triệt sinh mạng chính trị của nhau chứ không còn giết người đoạt mạng như ngày xưa, nhưng về cơ bản các giá trị phương tây như vị tha, bác ái, đối thoại, hòa giải vẫn chỉ là hình thức ở Việt Nam. Đã động đến chính trị và quyền lực ở Việt Nam thì cuộc chơi chắc chắn chỉ có một mất một còn.

Sự sống còn của sinh mạng chính trị không chỉ nằm ở chỗ bảo vệ an toàn sinh mạng chính trị của lãnh đạo hay nhóm lãnh đạo, mà còn ở an toàn địa lý và thể chế. Hai anh em tổng thống Diệm cực cao thủ về kỹ năng chính trị, lại có cả lực lượng đặc biệt do ông Nhu nhờ Mỹ đào tạo để làm cặp song kiếm bảo vệ tổng thống theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhưng việc để mất kiểm soát Cambodia và vùng nông thôn rộng lớn chính là những vết nứt lớn dẫn đến sự sụp đổ của nền đệ nhất cộng hòa. Ngô Đình Nhu  luôn cho rằng còn miền nam thì còn Việt Nam. Mất miền nam thì Việt Nam, trước hết là miền bắc, sẽ rơi vào tay Trung Quốc. Biết thế nhưng không làm được đến cùng, chính miền nam lại lung lay quá dữ dội và ông Nhu đã phải trả giá.

Quay lại với các bản đồ. Sử dụng bản đồ chiến dịch Đông dương của Đế Quốc Nhật Bản (1940-1945) để đọc lại chiến dịch Phá Tống của Lý Thường Kiệt sẽ thấy rất rõ nhận định của Ngô Đình Nhu về  tham vọng của Tàu khống chế Bắc Việt bởi đó là lối thoát duy nhất của Tàu ra biển. Tất nhiên, khi nói đến lối thoát tức là hiểu Tàu đang bị Trung Hoa (nay là Đài Loan) và Nhật Bản, cả hai có Mỹ đằng sau, o ép không cho hít thở khí giời.

Cũng dùng bản đồ này để xem tiếp chiến dịch Bình Chiêm của Lý Thánh Tông bằng hải quân, cũng như cách quân Chiêm đi đường biển ra đánh Thăng Long (cuối Trần), sẽ thấy nếu Tàu bình định được đến vĩ tuyến 17, thì lời của của nói Mao với Lê Duẩn về tham vọng mang người Tàu tràn xuống Đông Nam Á, là rất khả thi. Cũng đừng quên những người Hoa phản Thanh đi xuống Đàng Trong cũng đi theo tuyến đường biển này. japconquestsea

Chính quân Nhật, năm 1940 đã phải khống chế Bắc Kỳ, cắt đứt đường vận tải vũ khí và nhiên liệu từ cảng Hải Phòng theo đường sắt đi qua Côn Minh của Trung Hoa (Tưởng), sử dụng sân bay Gia Lâm cho không quân Nhật ném bom được chặn tiếp vận của Mỹ từ Myamar qua Côn Minh. Cảng Hải Phòng cũng là cảng chuyển tiếp lục quân Nhật. Sau đó, sau khi khống chế Nam Kỳ, chỉ trong vài năm ngắn ngủi đây Nhật tấn công và chiếm đóng bằng hết các nước (lúc đó là thuộc địa của phương tây) mà nay là lãnh thổ Đông Nam Á: Cambodia, Philippines, Malaysia, Singapore, Myanmar, Thailand và Indonesia. Sân bay Sài Gòn và cảnh Cam Ranh là hai căn cứ quân sự quan trọng nhất của Nhật để đánh chiếm các nước nói trên. Đông Dương quan trọng như vậy nên người Nhật là người hiểu Việt Nam nhất, là dấu ấn của họ để lại trên đất nước này ngày càng rõ.

Cho nên ván cờ giờ không còn là ta đánh Mỹ (ở miền nam) là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc, mà bây giờ giữ được biển Đông là giữ được an ninh cho cả Đông Nam Á. Gần đây, sau khi Nhật tỏ rõ thiện cảm với Việt Nam trong việc chống Tàu,  Việt Nam lập tức xích lại gần Ấn Độ, đây có thể sẽ là cú xoay trục từ Tung sang Hoành làm Trung Quốc phải thu nhỏ dã tâm bành trướng lại. Tất nhiên, việc củng cố an toàn địa lý sẽ dẫn đến an toàn chính trị, một sự an toàn ở đẳng cấp quốc tế mà các đối thủ chính trị tầm nội địa rất khó triệt hạ.

Trên đây nhắc đến nhiều thứ lờ mờ. Nhưng có một điều chắc chắn: Nguyễn Huệ bỏ Gia Định lại cho Nguyễn Lữ, nên ngày nay chúng ta có nước Việt Nam. Ấy là nhờ Nguyễn Ánh lấy Gia Định làm bàn đạp mà thống nhất sơn hà. Sau người Nhật cũng lấy Sài Gòn  làm bàn đạp mà chiếm được cả Đông Nam Á.

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong nhảm và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to Chiếm và Giữ

Đã đóng bình luận.