Mặt trời xuống biển trăng lên núi

1.

Đứng trên cầu Tô Châu bắc ngang khu đầm biển duyên hải rộng lớn, chúng tôi quay mặt nhìn ra cửa biển lấp lánh sáng dưới ánh trăng rằm tháng ba. Đấy là phía tây, hằng ngày mặt trời đi xuống biển, là vùng đất liền hiếm hoi ở Việt Nam mà ta có thể chiêm ngưỡng biển xanh dưới ánh tà dương.

Phía sau chúng tôi là trăng rằm tỏa ánh sáng trong vắt xuống phần ăn sâu vào đất liền của biển. Khu đầm ấy phong cảnh hữu tình như hồ nước ngọt rộng lớn, nên người xưa gọi là Đông Hồ. Còn Mạc Thiên Tích, vị đại đô đốc yêu tiếng Việt, gọi là Đông Hồ Ấn Nguyệt chắc cũng vì những đêm trăng soi bóng nước yên bình.

2.

Vùng đất Hà Tiên hoang dã ngày xưa, tự mình thu dưỡng người dân phiêu bạt về đây dựng đất và giữ nước. Trong chưa đầy một trăm năm đầu tiên lập đất, Hà Tiên đã chịu đựng và anh dũng chống trả vô số các cuộc cướp bóc, xâm lăng của cả người Cao Miên, Xiêm La lẫn bọn hải tặc Khmer trộn cùng người Hán.

Có một đảo đá nhỏ, đứng trơ trọi trên cửa biển, vừa là trạm quan sát vừa làm cánh cửa kiên cường chắn sóng, bảo vệ vùng đất nhỏ Hà Tiên. Hòn đảo đấy được Mạc Thiên Tích đặt tên là Kim Dữ Lan Đào (Đảo vàng – Cửa chắn sóng). Nó giống như chính vùng đất Hà Tiên bé nhỏ, từ cuối thế kỷ 17 hoang sơ đã bắt làm cánh cửa che chắn chongười dân khai phá những vùng đất mới, từ Rạch Giá đến Cà Mau, để rồi cùng cái bóng bảo hộ của các chúa Nguyễn thế kỷ 18, đã mở rộng đất đai bờ cõi Việt Nam từ vùng biển cực tây ngược lên đến tận Gò Công, rồi tất cả cùng hòa mình vào trấn Gia Định, thủ phủ của chúa Nguyễn thời tiền Nguyễn Ánh.

Kim Dữ Lan Đào, bây giờ được biết đến với tên Pháo Đài, do vua Minh Mạng xây pháo đài cửa biển trên hòn đảo này, là nơi ta có thể ngồi nhìn ra biển mỗi sáng sớm, khi có thể uống trà với ánh hừng đông phản chiếu mặt hồ, đến khi chiều về lại có thể đối ẩm cùng tà dương hạ dần xuống mặt biển trong lúc trăng ló mặt đầu non.

3.

Cách trung tâm Hà Tiên chưa đến chục cây số là một ngọn núi đá nhỏ cô độc nhô lên trên cánh đồng rộng lớn. Dân ở đây gọi hòn núi đá này là Đá Dựng. Đá Dựng có những hàng đa cổ thụ khổng lồ, rễ chùm lên vách đá. Dưới những chùm rễ đấy ẩn giấu một miệng hang đá, gọi là hang Biệt Động, do thời chiến tranh, biệt động dùng miệng hang này làm trạm quan sát nhìn về thị trấn.

Tên cũ của hang là Cội Hàng Da (gốc cây đa), truyền thuyết là nơi ở của con chằn tinh hung ác bị Thạch Sanh chém. Rồi cũng hang đá này trở thành nơi trú ẩn của Thạch Sanh sau khi bị Lý Thông lừa dối đến nỗi phải trốn vào rừng.
Từ cửa hang này, một ngày kia, Thạch Sanh nhìn thấy đại bàng cắp công chúa Quỳnh Nga bay qua bầu trời, chàng đã giương cung bắn. Con đại bàng xã cánh rơi xuống hòn núi đá Thạch Động, cách Đá Dựng hơn một cây số cánh đồng, là nơi Thạch Sanh lội bộ dò theo vết máu mà tìm đến.

Trong hang đá của Thạch Động vẫn còn giếng đá sâu, tương truyền ăn thông ra biển, nơi Thạch Sanh bám dây leo xuống cứu công chúa và bị Lý Thông hãm hại bằng cách bỏ rơi dưới đáy hang. Cũng chính dưới đáy giếng này, Thạch Sanh đã cứu được thái tử con vua nước Cần Một bị giam trong cũi sắt, để rồi được vua cha tặng cho cây đàn để trả ơn.

Có lẽ Thạch Sanh là truyền thuyết giàu hành động và kịch tính nhất trong kho tàng chuyện cổ tích Việt Nam. So với các chuyện cổ khác, các nhân vật trong Thạch Sanh có họ tên, còn bản thân chuyện cổ tích này được người ta cho rằng xuất hiện trong dân gian tương đối muộn, vào thế kỷ 18, tương ứng với thời kỳ người Hà Tiên bắt đầu dựng đất và giữ nước.

Nếu Thạch Sanh quả thực phát sinh từ vùng đất này, thì ẩn chứa dưới các lớp vỏ truyền thuyết có thể sẽ là bóng dáng của lịch sử.

Con chằn tinh ăn thịt người có thể là phóng chiếu tiềm thức phản kháng của người dân đất Hà Tiên thủa hoang sơ, chống lại không chỉ sự cướp bóc tàn ác của quân lính Cao Miên và còn như muốn thoát ra khỏi cái bóng văn hóa Khmer mà biểu tượng là truyền thuyết rắn thần Naga. Nó cũng lờ mờ lý giải được tại sao trong tiếng Nam người ta nói “dữ như chằn lửa” còn tiếng Bắc không có sự so sánh như vậy.

Lý Thông có thể là hình ảnh tượng trưng cho những thương nhân người Hoa ở vùng Vịnh Xiêm La (từ Phú Quốc vào Hà tiên, Rạch Giá) , quanh năm xoay sở kiếm lời bằng cách tổ chức sòng bài và buôn bán mọi cách ở vùng đất mới Hà Tiên đang manh nha trù phú, thường xuyên bị áp lực của các tiểu vương cai trị các xứ Chân Lạp, Cao Miên và Xiêm La.

Ngay cả tình tiết Thạch Sanh cứu thái tử dưới hang, cũng có nét tương đồng với việc Mạc Thiên Tích nhiều lần cưu mang thái tử của quốc vương Chân Lạp, hay Xiêm La, mỗi lần các xứ này có nội loạn hoặc bị quân Miến Điện đánh chiếm. Như vua cha trong chuyện cổ tích mang đàn quý để trả ơn Thạch Sanh, những vị thái tử sau này lên ngôi, đều thông qua Mạc Thiên Tích, dâng đất để trả ơn chúa Nguyễn, từ mảnh đất rộng lớn Tầm Phong Long (An Giang đến Vĩnh Long), từ Cần Thơ ra đến Bạc Liêu (Ba Thắc), từ Trà Vinh ngược tới Gò Công.

Mạc Thiên Tích có mẹ và vợ là người Việt. Ông yêu tiếng Việt đến nỗi khi làm chủ soái Tao Đàn Chiêu Anh Các chiêu hiền đãi sỹ, ông đã tả cảnh đẹp Hà Tiên bằng những bài thơ tiếng Việt thể song thất lục bát mà hai trăm năm sau thi sỹ Đông Hồ phải thốt lên: “… làm những câu thơ tiếng Việt lọc lõi đến như vậy”.

Được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chức Tổng Binh Đại Đô Đốc để kế tục sự nghiệp của cha mình là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích không chỉ xây dựng Hà Tiên thành hải cảng đô hội trù phú, có trường học và thi đàn phát triển, mà ông còn cùng với quân đội của chúa Nguyễn kiên cường chống quân xâm lăng đến từ Cao Miên và Xiêm La; đồng thời mở rộng bờ cõi, chiêu dân lập ấp. Lúc đầu Mạc Thiên Tích trụ ở Hà Tiên để cai quản vùng đất từ Rạch Giá qua Cà Mau, sau ông rời qua Cần Thơ để cai quản miền đất rộng lớn, từ An Giang tới Bạc Liêu, từ Cần Thơ lên hết Trà Vinh.

Chỉ trong một thời gian ngắn, chưa đầy ba thập kỷ (1708-1735), từ lúc Mạc Cửu xoay theo thời thế, lúc dựa vào vua Chân Lạp, lúc ngả theo triều đình Xiêm La, để rồi cuối cùng dựa hẳn vào sự che chở của chúa Nguyễn Phúc Chu, mảnh đất Hà Tiên dần hình thành trên mảnh đất duyên hải nhỏ bé phía nam của tổ quốc. Để rồi trong ba thập kỷ tiếp theo (1735-1776), Hà Tiên của Mạc Cửu, chỉ là hải cảng của các sòng bài và hải tặc, dưới sự cai quản của Mạc Thiên Tứ và người vợ Nguyễn Thị Hiếu Túc đã phát triển lên tới cực thịnh, làm tiền đề mở mang bờ cõi cho nhà Nguyễn sau này.

Chịu ơn chúa Nguyễn, phò nhà Nguyễn đến cùng, Mạc Thiên Tích bị quân Tây Sơn truy sát, phải chạy qua lưu vong dưới trướng vua Xiêm lúc bấy giờ là Taksin (Trịnh Quốc Anh). Vua Xiêm nghi ngờ ông là nội gián của chúa Nguyễn. Giống như Thạch Sanh bị hạ ngục vì Lý Thông vu oan lấy vàng của vua. Trong ngục tối Thạch Sanh có cây đàn làm bạn, cất lên lời ca bi oán: “Đàn kêu tích tịch tình tang. Ai mang công chúa dưới hang trở về”. Còn Mạc Thiên Tích chọn lối quyên sinh. Ông chết nhưng bờ cõi của nhà Nguyễn vẫn còn. Và Hà Tiên, giống như Kim Dữ Lan Đào, vẫn tiếp tục làm cửa chắn sóng bảo vệ bờ cõi phía nam tổ quốc.

Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy
Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng.
Thế cả vững vàng trên Bắc hải,
Công cao đồ sộ giữa Nam thiên.

(Kim Dữ Lan Đào trong Hà Tiên Thập Cảnh Vịnh của Mạc Thiên Tích, bản dịch của Đông Hồ).

4.

Những năm 20 thế kỷ trước, có một người thanh niên tên là Kỳ Phác, dòng họ nhiều đời sống ven Đông Hồ Ấn Nguyệt. Hà Tiên lúc đó đã suy tàn, chỉ còn là cái bóng mờ so với quá khứ và không thể cạnh tranh nổi với Sài Gòn Gia Định phồn hoa. Người thanh niên ấy đêm ngắm trăng tỏa sáng trên mặt nước Đông Hồ, ngày ngóng đợi tạp chí Nam Phong gửi vào từ xứ Bắc xa xôi lúc đó còn là thủ phủ của Liên bang Đông dương thuộc Pháp.

Tạp chí Nam Phong của Phạm Quỳnh, vô tình khơi dậy tình yêu chữ quốc ngữ bên trong con người trẻ tuổi xứ Hà Tiên, lại vừa làm cầu nối giữa anh với văn nhân xứ Bắc. Người thanh niên ấy sau này nổi tiếng với bút danh Đông Hồ. Ảnh hưởng của tiếng Việt và chữ quốc ngữ đến mảnh đất cực nam khi ấy còn mờ nhạt, với sự mẫn cảm kỳ lạ của một thi nhân trẻ tuổi, Đông Hồ không chỉ hồ hởi đón nhận mà còn nỗ lực bỏ công quảng bá tiếng Việt. Năm 1926, khi mới hai mươi tuổi, Đông Hồ mở Trí Đức Học Xã bên Đông Hồ Ấn Nguyệt với chủ trương chỉ dạy và truyền bá tiếng Việt. Cùng lúc ấy, Đông Hồ chăm chỉ viết bài cho Nam Phong, trong đó có các bài khảo cứu quan trọng về Hà Tiên.

Khi hoàng tử trẻ Nguyễn Phúc Ánh thoát chết chạy từ Huế về Gia Định, rồi lên ngôi vương ở đất Sài Gòn năm 1780, người dân Nam Bộ, lúc đấy còn được gọi chung là Gia Định mới bắt đầu sử dụng tiếng Việt. Tiếng Việt và phong tục Việt chỉ trở nên phổ biến ở vùng đất này, lúc đó gọi là Nam Kỳ, kể từ sau năm năm 1835 là năm Minh Mạng bình định quân khởi nghĩa Lê Văn Khôi và sáp nhập nốt vương quốc Chân Lạp rồi bắt đầu chính sách mạnh mẽ để giáo hóa người Việt miền Nam và đồng hóa người Chăm, Khmer và người Hoa  cũng trên mảnh đất này.

Một trăm năm sau,  năm 1935, khi Nam Phong đình bản, Đông Hồ lên Sài Gòn mở ra tuần báo Sống, là tờ báo đầu tiên ở phía nam tuân thủ nghiêm ngặt cách bỏ dấu theo chính tả tiếng Việt. Rồi ông mở nhà xuất bản Bốn Phương, mở nhà sách Yiễm Yiễm Thư Quán. Tất cả chỉ để truyền bá quốc ngữ. Hoài Thanh và Hoài Chân viết về ông: “Yêu quốc văn đến như Đông Hồ, kể cũng ít …”.

Trí Đức Học Xá và Sống của Đông Hồ, như những giọt mồ hôi cuối cùng của người Việt từ Gia Định đi mở cõi từ trăm năm trước rơi trở về đất Trấn Biên.

5.

Chúng tôi rời Hà Tiên bằng chuyến xe đêm. Trước khi chia tay Hà Tiên, chúng tôi đến ven bờ Đông Hồ Ấn Nguyệt, phía trước Trí Đức Học Xá, để ngắm trăng mười sáu tỏa ánh sáng vĩnh cửu của mình xuống mặt biển bình yên, trong tiếng sóng êm ả vỗ bờ.

Trong tiếng sóng ấy là  khí phách của những người mở cõi: nhân hậu, bền bỉ và bất diệt.

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong đời và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.