Con sáo bay qua đời tôi

(Lưu ý: Entry này rất thiếu tư liệu và trải nghiệm, cho nên thiên về cảm tính, ai yêu cổ nhạc và băng từ có lẽ sẽ không hài lòng)

***
Thèm một điệu buồn phương Nam ru giấc say nồng
(Điệu Buồn Phương Nam – Vọng Cổ – Soạn giả Viễn Châu)

Từ Tiền Giang đến Cà Mau là vùng châu thổ Mê-kông. Là vô số cửa sông ra biển. Là những địa danh pha trộn tiếng Hán, tiếng Khmer và tiếng Việt giọng miền Tây Nam bộ. Là vùng đất khổng lồ được thiên nhiên ưu đãi. Là nơi Chúa Nguyễn cắt đất phong vương cho những đám người lưu lạc.

Vùng châu thổ lớn dần lên từ khói lửa binh đao thời Nguyễn, đến làm ruộng làm vườn thời thái bình, rồi lại binh đao khói lửa của những ngày người Pháp đến với Đông Dương. Cùng với nó là những người dân lưu lạc, định cư và gắn bó với mảnh đất này. Họ là những người Chăm mất vương quốc, là những người Khmer bị quốc vương bỏ rơi, là những người Hoa bỏ chạy từ chính quốc và những người Việt đất bắc cầm gươm mở cõi vào Nam.

Trên vùng châu thổ mênh mông được thiên nhiên ưu đãi dần hình thành người Tây Nam bộ và văn hóa miền tây nam bộ hào sảng, chăm chỉ lao động và sống hết mình. Thế nhưng mỗi khi chiều về, sau một ngày lao động, trên sông nước mênh mang, họ lại nhớ cố hương, nhớ vương quốc xưa, nhớ cố quốc mà họ không quay về được. Từ đây, họ cất lên tiếng ca từ đáy lòng mình nỗi đau mất nước, nỗi nhớ cố hương, nỗi đau khói lửa và nỗi khó nhọc gian nan của hành trình du cư dài hàng thế kỷ. Giai điệu và tiếng đàn nỉ non, ai oán, bi ai và sầu nhớ. Lời ca đầy hình ảnh tượng trưng, so sánh ẩn dụ và đậm chất cổ văn. Từ đấy làm vọng lên tình yêu của họ với thiên nhiên, đồng lúa, kênh rạch, gia đình và thân phận những người lao động.

“Rượu chia li ngày ấy tiễn anh đi, hoa lá bay theo gió ngựa phi”,
(Võ Đông Sơ & Bạch Thu Hà – Vọng Cổ – Soạn giả Viễn Châu)

***

Người Pháp đến Việt Nam mang theo âm nhạc phương tây, mang theo kịch nghệ và nghệ thuật trình diễn. Người Việt đón nhận âm nhạc tây phương và nghệ thuật sân khấu để rồi đưa âm nhạc bình dân vào khuôn phép kịch nói để trình diễn, từ đó biến đờn ca tài tử vốn chỉ là thú giải trí của giới bình dân thành nghệ thuật chủ lưu. Đó chính là Cải Lương.

Cải Lương, những năm 20 của thế kỷ trước, biến thành dòng chủ lưu và sinh ra những đào kép tài danh, những ông bầu gánh hát, những nhà soạn nhạc chuyên nghiệp. Những đào kép tài danh, hay nói theo ngôn ngữ bây giờ, là các ngôi sao đại chúng, cùng với công nghệ ghi âm đĩa than, đã manh nha đặt nền móng cho ngành công nghiệp ghi âm của Việt Nam.

Sau hiệp định Geneve 1954 là sự bùng nổ và thống trị của Cải Lương, Tân Cổ với các công cụ mạnh từ sân khấu biểu diễn, các giải thưởng lớn và ngành công nghiệp ghi âm non trẻ. Hình như sự thống trị này kéo dài đến giữa những năm 1960.

***

Tân Nhạc ở miền Bắc, với đỉnh cao hình như là Thiên Thai, là động lực sinh ra các sân khấu biểu diễn nhỏ ở Hà Nội thuộc Pháp. Các sân khấu này được biết đến với tên gọi Phòng Trà. Hình như dấu mốc của các sân khấu này là năm 1947, một năm sau khi Phạm Duy bỏ kháng chiến về Hà Nội tạm chiếm.

Sau năm 1954, các phòng trà bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở SG và là sự nối dài của nhạc tiền chiến từ miền Bắc. Ở các phòng trà SG người ta hát nhạc tiền chiến và nhạc Pháp. Dòng nhạc này về sau suy thoái và trở thành dòng nhạc được gọi là nhạc “tự sự” mà một phái sinh của nó cực kỳ nổi tiếng là nhạc Phú Quang.

Sự suy thoái của nhạc Việt và nhạc Pháp ở các phòng trà lớn như Queen Bee, Tự Do (Khánh Ly, Lệ Thu), Đêm Màu Hồng (Thái Thanh) cùng lúc với sự xuất hiện của lính Mỹ ở SG và làn sóng nhạc Anh Mỹ tràn vào. Giới trẻ bắt đầu hát nhạc Mỹ.

***

Ở đường Trần Cao Vân gần Hồ Con Rùa có một tòa nhà tên là Master Building. Vào đấy bấm thang máy lên lầu 2 sẽ gặp một khu chợ nhỏ chuyên bán đồ Audiophile/High-end. Cửa hàng nhỏ phía cuối hành lang chuyên bán CD, băng và đĩa than. Chủ cửa hàng là một người khá nổi tiếng trong giới giang hồ âm thanh, anh Lâm Hòa Thượng. Nếu đến cửa hàng này vào một ngày may mắn, anh sẽ cho bạn nghe Thái Thanh hát Tình Ca của Phạm Duy từ máy quay băng cối. Tiếng hát Thái Thanh từ cái băng từ và đầu máy Revox cũ kỹ, đi qua cặp âm li đèn Quad II, bỗng trở thành tiếng hát của thiên thần xa vắng:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời

Có lẽ Thái Thanh là nghệ sĩ ghi âm có số lượng album ghi âm nhiều kỷ lục ở Việt Nam. Từ những năm 50 đến năm 198x, Thái Thanh đã ghi âm giọng hát vàng của mình lên đĩa nhựa, băng từ và đĩa CD.

***

Có một phòng trà hát nhạc Mỹ tên là Baccara ở đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần). Từ phòng trà này có nhiều ca sỹ teenager và các ban nhạc trẻ thành danh. Nghe nói các ban nhạc hồi đó như Black Bees, The Beat và The Blue Jets đi hát ở club dành cho quân nhân Hoa Kỳ mà lính Mỹ nhắm mắt lại nghe tưởng có ca sỹ da đen hát. Ca sỹ chính của các ban nhạc đó là một cô gái trẻ, nổi tiếng hát nhạc Blue từ khi mới 15 tuổi, tên là Vy Vân.

Chủ phòng trà Baccara tách ra và mở phòng trà Monaco ở Cao Thắng vào năm 1967. Ở đây anh đã làm một việc làm thay đổi ngành công nghiệp ghi âm của Việt Nam. Anh dùng băng từ (reel/tape) để ghi live các tiết mục biểu diễn của ca sỹ ở phòng trà Monaco. Kể từ đây dân SG bắt đầu nghe tape và ca sỹ đầu tiên trở thành ngôi sao của băng từ chính là Lệ Thu. Còn

Công nghệ ghi âm băng từ làm thay đổi diện mạo việc biểu diễn và thưởng thức âm nhạc. Trào lưu nghe băng từ lên đến đỉnh điểm vào những năm đầu 1970. Nó cũng sinh ra một loạt các producer chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam. Hình như producer thành công nhất và giỏi nhất tên là Ngọc Chánh, chủ ban nhạc Shotgun. Không chỉ sản xuất nhạc trẻ, Ngọc Chánh còn sản xuất cả tân cổ giao duyên và nhạc sến dành cho lính, trong đó có Chế Linh.

Khi Vy Vân ở Baccara đã thoái trào thì ngay lập tức ở phòng trà này xuất hiện ban nhạc The Blue Jets và ca sỹ Khánh Hà còn rất trẻ (điều ngạc nhiên là các ca sỹ nhạc trẻ hồi đó bước chân vào làng biểu diễn từ lúc học cấp 3, hai ngôi sao cuối cùng của họ là Chánh Tín và Thanh Lan cũng nổi danh từ khi là học sinh cấp 3, sau này hai anh chị một lần nữa nổi tiếng khắp nước với bộ phim Ván Bài Lật Ngửa). Còn Vy Vân tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình với các nhóm nhạc mà nay tên tuổi đã đi vào lịch sử âm nhạc miền nam là Ba Trái Táo (và hình như cả Ba Con Mèo). Một trong ba ca sỹ đầu tiên của Ba Trái Táo hình như là cô Tuyết Loan hát nhạc Jazz ở phòng trà Đồng Dao (Nguyễn Huệ) năm 1999.

Khánh Hà là dòng ca sỹ đầu tiên hát nhạc Việt và nhạc Anh Mỹ hay như nhau. Ở phòng trà Baccara những năm 68-70, rất nhiều thanh niên SG và lính Mỹ đã nghe Khánh Hà hát nhạc của The Beatles. Sau này khi ở hải ngoại cô chuyển qua hát nhạc Việt. Cô có một album ghi dấu ấn cho ngành ghi âm nhạc Việt, đó là album “Mưa”. Danh hiệu Divas đầu tiên của Việt Nam đúng ra phải thuộc về Khánh Hà.

***

Đêm phương Nam nằm nghe đuờng xa vó ngựa
Nghe từ thuở hồng hoang ngựa qua bến sông
(Ngẫu hứng Lý Ngựa Ô – Trần Tiến)

Ngày nay người miền tây vẫn nghe cổ nhạc trên vùng sông nước hay đồng ruộng mênh mông mỗi khi chiều về. Các em bé vẫn có thể hát những câu vọng cổ. Ở các nhà hàng sang trọng giữa quận nhất, quận 3 người ta vẫn mời dân chơi cổ nhạc đến tận bàn hát cho khách nghe. Một cây đàn kìm, một cây đàn sến và một em gái mặc quần jeans áo thun, thế là có một ban chơi cổ nhạc.

Thế nhưng cổ nhạc vắng bóng khỏi các ca khúc mới, sân khấu biểu diễn và studios. Linh hồn của nó cùng với dân ca Nam Bộ vang vọng lần cuối cùng trong những ca khúc của Trần Tiến tính đến nay chắc cũng đã được 20 năm.

Những gì còn sót lại với nỗ lực của truyền thông nhà nước như Chuông vàng Vọng cổ hay Vầng trăng cổ nhạc chỉ phần nào níu kéo được kỹ thuật đờn ca mà không lưu giữ được hồn tài tử thoáng chốc đã xa xưa.

***

Con sáo sang sông,
Sáo đã sổ lồng,
Bay về Bạc Liêu, con sáo bay theo phương người,
Bay về Trà Vinh, con sáo bay qua đời tôi
(Điệu Buồn Phương Nam – Vọng Cổ – Soạn giả Viễn Châu)

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong nhạc và được gắn thẻ , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

8 Responses to Con sáo bay qua đời tôi

  1. Ran Mouri nói:

    Anh 5xu mến, có hai điểm chưa chính xác trong bài viết của bác:
    – Bài “Điệu buồn phương nam” là bài tân nhạc do Vũ Đức Sao Biển sáng tác, chứ không phải là bản vọng cổ của Viễn Châu. Sau này “Điệu buồn phương nam” được chuyển sang cổ nhạc (dạng tân cổ giao duyên, do nhạc sĩ nào chuyển thì em không rõ).
    – Cải lương miền Nam trước giải phóng thật sự khủng hoảng từ sau tết Mậu Thân 1968. Một phần là do ảnh hưởng của chiến tranh, một phần là do phim ảnh Hồng Kông. Vào thời hoàng kim của cải lương, nghệ sĩ cải lương được coi trọng và nổi tiếng hơn các diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ kịch nói, ca sĩ tân nhạc khá nhiều. Cô Thẩm Thúy Hằng cũng từng thử sức mình ở cải lương lúc nổi tiếng (thử một lần rồi thôi, vì cô tự thấy mình không đủ khả năng).

  2. Bài hay quá, cảm ơn bác.

    Nhưng cũng có cái chưa đúng lắm, ví dụ như bài Teen vọng cổ mà bác vừa bẩu là bài hát của năm đấy thây.

  3. Titi nói:

    Bài viết có nhiều thông tin hay quá, em để dành làm tư liệu nha bác 🙂

  4. Hương nói:

    Mèn, nghe dzọng cổ nó mùi !!! Tnx anh. Cô Vy Vân gì đó còn hát không anh?

  5. siriusstar nói:

    Nhặt sạn tiếp:

    Phạm Duy dinh tê năm 1949-1950 chứ không phải 1946-1947.

    Những ca sĩ trẻ nổi lên từ lúc học cấp 3 vì họ đều là con nhà nòi. Ngoài Khánh Hà hay trước đó là Mai Hương, Quỳnh Dao, Sơn Ca thì Tuấn Ngọc, Hương Lan, Duy Quang đều đi hát từ rất trẻ.

  6. Gió Chướng nói:

    Nhạc Miền Nam trước 1975 tuyệt vời, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Lê Uyên Phương… Ở đây, tôi thường nghe đi nghe lại, nhớ và thương vô cùng. Nhạc trong nước, tôi thích Phú Quang, hoà âm hay. Nhưng những ca từ hay nhất cuả Phú Quang thì hầu hết là thơ phổ nhạc. Khi nghe “Dương Cầm Lạnh”, tôi nhớ phảng phất một đọan nào đó trong nhạc cuả phim “Elegy”.

    Bạn 5xu nói đúng, Cải Lương gợi hoài cổ, hoài hương… nhưng không phải nhớ Chàm hay Khmer đâu nhé, cho nên có đoàn nào qua Mỹ là người ta phải… mua vé trước. Nhiều người Trung và Bắc cũng rất thích Cải lương. Trong nhiều gia đình, thấy DVD, Video cải lương chất đầy kệ. Tôi còn nhớ hồi nhỏ trước 1975, thấy các bà các cô đi xem cải lương còn mặc áo dài, rất trang trọng.

    Tuy tôi không thích nghe Cải lương, nhưng phải công nhận, thời trước các vở cải lương rất hay và trình diễn rất có hồn. Cũng nhận thức một điều rằng, khi người nước ngoài muốn tìm hiểu âm nhạc Việt Nam một cách chuyên nghiệp, thì họ tìm tới Cải lương, Chèo, dân ca, và các nhạc cụ dân tộc, chứ họ không tỉm tới những tên tuổi như Phạm Duy hay Phú Quang, vì tân nhạc Việt Nam là học theo nhạc Phương Tây, không mới mẻ gì với họ. Bên này, các cuộc trình diễn “giao lưu văn hoá” này nọ, Trung Quốc, Nhật bản và các nước châu Phi đều trình diễn nhạc dân tộc. Vì vậy, việc đào tạo và phát triển âm nhạc dân tộc là rất nên làm, bằng không, khi người ta hỏi đến, ngoài tân nhạc hoàn toàn du nhập từ phương Tây, VN chă ̉ng có gì khác nưã, là “xệ” lắm, trống rỗng.

    Cảm ơn 5xu đã cho đọc một entry hay.

  7. popcolor nói:

    “Những gì còn sót lại với nỗ lực của truyền thông nhà nước như Chuông vàng Vọng cổ hay Vầng trăng cổ nhạc chỉ phần nào níu kéo được kỹ thuật đờn ca mà không lưu giữ được hồn tài tử thoáng chốc đã xa xưa.”

    …..
    love it 🙂

  8. thanh lan nói:

    Bich Loan va ban CBC (1972)

Đã đóng bình luận.