Sự Thờ Ơ Của Ngôn Ngữ Hay Là Alternative (Rock) for (Chinese) Democracy

Từ hôm quay lại sống ở SG tới giờ, thấm thoắt đã được hai mấy ngày, thời gian quả như chân dài thoáng qua cửa thang máy, chả mấy mà hết mấy năm ở đây.

Công việc lúc thưa lúc mau. Lúc mau thì ôm máy tính, lúc thưa cũng lại ôm máy tính. Bệnh nghiện net lại có phần tái phát. Từ Chủ nhật vừa rồi quyết định dùng thời gian rảnh cho đi bộ. Hôm đầu tiên đi một phát từ ngã sáu Cộng Hòa lên chợ Bến Thành, uống 1 cốc cafe, ăn một bán miến cua, rồi gọi thằng em đến chở về nhà. Di động thật là vĩ đại. Chiều nay thử đi bộ vòng vèo quanh khu quận 3 phía Pasteur-Võ Văn Tần. Thấy cũng có vẻ trôi chân.

Đi bộ nghĩ được lắm thứ hay, tính viết 1 series kiểu “Chuyện Đô Thị”, vài ngày một bài. Kiểu tại sao Saigon Square dời từ góc Nguyễn Du- Hai Bà Trưng ra Nam Kỳ Khởi Nghĩa rồi nay lại manh nha về Tôn Đức Thắng lại có ý nghĩa với sự tiến bộ của nhận thức của người tiêu dùng SG về vấn đề sở hữu trí tuệ. Hay tại sao cư xá Eden lại không ánh vàng kim loại mà sáng ánh đèn huỳnh quang.

Song nghĩ lại viết thế thì có mà thành chuyên nghiệp, toi mất, rồi lại tái nghiện net.

Cho nên quyết định dành cả một tối ngồi viết bài luận có tựa đề rất máu là: Sự Thờ Ơ Của Ngôn Ngữ Hay Là Alternative (Rock) for (Chinese) Democracy. Bài viết này lấy cảm hứng từ sự sai lầm trong cách tiếp cận xã hội của entry Vua và Tôi. Bài viết hơi dài, có lẽ gần 2000 chữ, đọc chắc mất 30 phút vì đề tài nặng nề, không giải trí phù phiếm như Bẫy thu nhập con Rồng, cho nên sẽ cắt thành 4 phần, đăng trong 8 ngày, từ giờ cho đến hết năm. Mong các bạn đón xem. Bốn phần sẽ có các tên như sau: Khởi Thủy Là Lời, Thờ Ơ Đừng Là Bản Năng, Alternative Rock for Chinese Democracy, Bản kinh kịch “Vua và Tôi” version Alternative Rock.

Sự Thờ Ơ Của Ngôn Ngữ Hay Là Alternative (Rock) for (Chinese) Democracy

Phần 1: Khởi Thủy Là Lời

Nhiều khi tôi cứ vẩn vơ cho rằng Họa Sỹ là giới nghệ sỹ nhất trong các nghệ sỹ. Bởi họ có gì trong trí tưởng tượng, hay đơn giản là thế giới mà họ nhìn, họ choang thẳng được ra mặt toan. Mà người hưởng thụ thì chỉ cần giương mắt lên nhìn là cảm được ngay, không cần diễn giải dài dòng. Hay nói cách khác là hoàn toàn là thị-trực giác, từ thể hiện cái sáng tác của mình, đến cảm nhận cái sáng tác của người khác.

Nhiều khi tôi cứ tiếc là mình không biết sáng tác nhạc. Làm thơ viết văn thì người Việt Nam ai biết chữ cũng đã từng phải rặn vài lần, ít ra là lúc đi học, nhiều ra thì lúc về hưu tham gia tổ thơ của phường. Tức là cái đoạn rặn mà phải dùng ngôn ngữ và chữ thì ai cũng có trải nghiệm cả, còn rặn ra giai điệu với hòa thanh bằng 7 cái nốt nhạc với 1 đống hợp âm thì ít người có trải nghiệm.

Thế nên hôm nọ mới phải hỏi anh Châu là tính nhẩm bằng tiếng gì. Nếu là tiếng Việt thì quá oách. Nhưng câu trả lời của anh Châu được hiểu là tư duy vô chiêu. Thực ra cũng đúng, toán cao cấp thì toàn là ký tự, đâu cần ngôn ngữ. Hay nói cách khác, giống như Nhạc và Họa, toán học có ngôn ngữ riêng của nó.

Thế nhưng các món khác, ví dụ triết, thì ngôn ngữ hẳn là cái ảnh hưởng nhiều đến tư duy. Không phải vô cớ mà tiếng Đức và tiếng Latin là những thứ tiếng đẻ ra nhiều Triết thuyết nhất. Chưa kể là toàn bộ nền vật lý hiện đại toàn xuất phát từ các nhà bác học nói tiếng Đức, cũng như ngày xưa các nhà triết học và thiên văn học đều viết bằng tiếng Latin. Nếu ngôn ngữ tự nó chưa ở đẳng cấp cao và hoàn chỉnh thì các món xã hội học khó mà có tư duy cao hoặc xa được. Mới đây bên Nhị Linh vẫn còn entry về cách dùng một vài phrase lẽ ra phải rất là tiêu chuẩn từ rất lâu rồi.

Ngôn ngữ chưa vững vàng về nghĩa, lại phải vay mượn nhiều sẽ có ảnh hưởng sâu và nặng tới tư duy ở một mức nhất định nào đó. Chuyện vay mượn thì phải chấp nhận rồi. Nhưng khi vay mượn thì cái nghĩa nó bị xa gốc rất nhiều, không còn chuyển tải được cả nature lẫn mean của từ gốc nữa.

Ví dụ chữ Liberty hay chữ Democracy.

Phần 2: Thờ Ơ Đừng Là Bản Năng

Phần 3: Alternative Rock của Chinese Democracy

Phần 4: Bản kinh kịch “Vua và Tôi” với version Alternative Rock

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong nhảm và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

6 Responses to Sự Thờ Ơ Của Ngôn Ngữ Hay Là Alternative (Rock) for (Chinese) Democracy

  1. Chu Thị nói:

    bác vào sống ở SG à?
    đọc và chờ đọc tiếp các phần tiếp theo.

  2. cf sua nói:

    ‘_’ chưng hửng.

  3. taaman nói:

    Đề tài ngôn ngữ quả thật rất hấp dẫn mà cũng rất “nhảm”, như chính CS vậy!!!
    Bác có khái niệm tôi cho là rất thú vị về “người âm” và “người dương”, rất có thể “lời âm” và “lời dương” Đâu đó như ngữ nói, ngữ viết, ngữ sống, ngữ chết…
    Một ngôn ngữ đạt đến độ tuyệt đối về sự mạch lạc rõ ràng theo tôi là nó đã đựợc báo tử!
    Tôi không rõ lắm về khái niệm ngôn ngữ đẳng cấp cao và hoàn chỉnh của bác???
    Với chút ít vốn liếng của tôi hiện thời tôi cho rẳng tiếng Đức là một thứ tiếng mới nhìn tưởng như rất chặt chẽ và logic, nhưng thực ra khủng khiếp lủng củng và phi logic với hàng lô nguyên tắc và vô số các ngoại lệ!
    Loạn đàm đêm khuya với bác chút, xin gặp lại bác sau!

  4. Thái Linh nói:

    “Nếu ngành học thống lĩnh thế giới tri thức ở thời trung cổ và thời đầu Phục Hưng là thần học; ở thời Khai sáng là triết học; ở thế kỷ 20 là khoa học, nhưng riêng trong phạm vi khoa học xã hội, ngành học mũi nhọn chắc chắn là ngôn ngữ học. Đó cũng là ngành học mẹ, từ đó, sinh ra ký hiệu học, nhân chủng học, phê bình văn học theo các phương pháp hiện đại, từ Hình thức luận đến Phê bình Mới, cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, v.v… Trong ngôn ngữ học, người có ảnh hưởng nhất là Ferdinand de Saussure (1857-1913). Trong lý thuyết ngôn ngữ học của Saussure, luận điểm căn bản và quan trọng nhất là: ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu gồm hai yếu tố chính: cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified), ở đó, ý nghĩa của cái biểu đạt không nảy sinh từ quan hệ tham chiếu giữa nó và hiện thực mà xuất phát từ sự khác biệt giữa nó và các ký hiệu khác trong cùng một hệ thống. Nói cách khác, trong ngôn ngữ chỉ có sự hiện hữu của cái biểu đạt và cái được biểu đạt mà thôi. Có nhiều hệ luận có thể được rút ra từ cách nhìn ấy. Thứ nhất, mọi hiện hữu đều có tính liên hệ (relational), và do đó, có ý nghĩa tương đối (relative): bất cứ cái gì có mối liên hệ với một cái gì khác đều là tương đối. Thứ hai, hiện thực bị loại hẳn ra khỏi phạm trù ý nghĩa; do đó, về phương diện văn học và nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực truyền thống vốn nhấn mạnh vào chức năng phản ánh hiện thực bị mất cơ sở lý thuyết để có thể đứng vững được; về phương diện triết học, quan niệm xem chân lý như sự phản ánh trung thành hiện thực vào trong ý thức cũng tức khắc bị xem là lỗi thời. Thứ ba, do mối quan hệ với hiện thực bị cắt đứt, mọi công trình nghệ thuật dựa trên ngôn ngữ đều có xu hướng khu biệt hoá (differentiation), tự trị hoá (autonomization) và đáng kể nhất, tính chất tự quy chiếu (self-referentiality), tự nó quay về với chính nó. Các nhà giải kiến tạo và hậu cấu trúc luận đã phát triển thêm khía cạnh này, trong đó, lời phát biểu “Không có gì ở ngoài văn bản” của Jacques Derrida được xem như một thứ tuyên ngôn mới của chủ nghĩa hậu hiện đại. Từ khởi điểm chung ấy, Derrida càng ngày càng đẩy tư tưởng của mình ra xa Saussure. Khác với Saussure, người chủ trương ngôn ngữ và chữ viết (writing) là hai hệ thống ký hiệu khác nhau, ở đó, cái sau hiện hữu chỉ với mục đích để thể hiện cái trước; trong hệ thống ngôn ngữ, ngôn (language/langue), chứ không phải ngữ (speech/parole), mới là đối tượng đích thực của ngôn ngữ học; Derrida cho “không có ký hiệu ngôn ngữ nào có trước chữ viết” và chỉ có các văn bản viết (writing) mới là kiểu mẫu để tìm hiểu về cách thức vận hành của ngôn ngữ vì những gì được viết không bị tan biến theo thời gian, do đó, còn giữ trong chúng những quá khứ với những thay đổi về ý nghĩa của chữ, hơn nữa, còn tiếp tục chi phối những văn bản khác sẽ được viết trong tương lai: với Derrida, mọi văn bản, như vậy, đều được sản xuất bằng cách chuyển hoá các văn bản khác và đọc một văn bản, cũng vậy, bao giờ cũng hướng đến những văn bản khác. Tất cả sẽ tạo thành một liên văn bản bất tận: trong một liên văn bản bất tận như thế, mỗi cái được biểu đạt sẽ tự động trở thành cái biểu đạt, và như thế, ý nghĩa cứ bị triển hạn mãi. Thú thực, chữ “triển hạn” tôi dùng ở đây chỉ dịch được một trong hai ý nghĩa và đặc điểm chính của thuật ngữ “différance” do Derrida tạo ra bằng cách kết hợp hai động từ “differ” (khác) và “defer” (trì hoãn): “Differance” bao hàm hai hình thức: danh từ (différence) và tiếp vĩ ngữ “-ance” thường dùng để tạo ra những danh động từ, chỉ một sự diễn tiến; và hai trạng thái: không gian (differ) và thời gian (defer). Nói cách khác, “differance” vừa có nghĩa là khác biệt vừa có nghĩa là trì hoãn, vừa có nghĩa là một cấu trúc vừa có nghĩa là một tiến trình, vừa là một hình thức vừa là sự hình thành của hình thức, vừa tĩnh vừa động, vừa đồng nhất (về ngữ âm, hai chữ “différence” và “différance” đọc giống nhau) vừa dị biệt (về hình thái, chúng vẫn là hai từ khác nhau), vừa có mặt: đó là một trong những khái niệm chính trong kho từ vựng giải kiến tạo và hậu cấu trúc luận, vừa vắng mặt: nó gợi nhớ cái quá khứ liên văn bản dài thăm thẳm phía sau, với những quan niệm khác về sự “khác biệt” trong quan điểm của Saussure, Nietzsche, Freud, Husserl và Heidegger. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là: Khi ý nghĩa bị triển hạn, chân lý, nhất là thứ chân lý khách quan và phổ quát theo cách nhìn hiện đại, cũng bị phi tâm hoá và cũng bị triển hạn theo. Mãi mãi. Bởi vậy, mọi văn bản đều trở thành bất định (undecidability). Trong một thế giới bị thống trị bởi tính bất định như thế, cái gọi là chân lý chỉ còn là một ảo ảnh.”

    Chủ nghĩa hậu hiện đại nhìn mọi thứ qua lăng kính ngôn ngữ học như một hệ thống. Bước ngoặt ngôn ngữ học trong TK 20 một phần đã dẫn đến cái chết của niềm tin vào chân lý, cái chết của niềm tin vào siêu tự sự và cái chết của cái thực hay hiện thực nói chung. “Cái hệ thống (ngôn ngữ học) ấy, thoạt đầu, từ Saussure cho đến các nhà cấu trúc luận, hoàn toàn khép kín, ở đó, chỉ có ký hiệu và quan hệ giữa các ký hiệu với nhau; sau, theo các nhà hậu cấu trúc luận và hậu hiện đại, dưới ảnh hưởng của Bakhtin, gắn liền với chu cảnh (context), có tính tương thoại (dialogic), hoặc tính liên văn bản. Derrida cũng xuất phát từ góc độ ngôn ngữ học nhưng nhìn xuyên qua cái trục lớn là văn minh Tây phương với truyền thống Ngôn tâm luận (logocentrism) đề cao lời nói hơn chữ viết, vốn kéo dài cả mấy ngàn năm; Foucault lại nhìn xuyên qua cái trục quan hệ quyền lực trong xã hội: bằng ngôn ngữ, mỗi xã hội tạo nên một “chế độ chân lý’ (regime of truth) dựa trên niềm tin, bảng giá trị và phong tục của riêng nó; các nữ quyền luận lại nhìn xuyên qua một cái trục khác: chủ nghĩa duy dương vật (phallogocentrism), ở đó, nam giới luôn luôn nắm quyền quyết định, kể cả trong cách nhìn và cách nghĩ về hiện thực, và về nữ giới: theo cách nhìn ấy, “đàn bà không phải là một tạo vật có âm đạo mà là một tạo vật không có cu”. Cũng chính cái hệ thống ấy, nếu trước đây đã từng cung cấp cho Claude Levi-Strauss một mô hình để nghiên cứu về nhân chủng học thì nay lại cung cấp cho Jacques Lacan một mô hình để nghiên cứu về vô thức: “Vô thức cũng được cấu trúc như là ngôn ngữ”. Ở đâu cũng thấy ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ lại không cố định và ổn định: chính những sự thay đổi của ngôn ngữ đã tương đối hoá, nếu không muốn nói là giải hoặc, các siêu tự sự, và cùng với chúng, những điều ngỡ như chân lý hay bản sắc.”

    (Trích bác Nguyễn Hưng Quốc)

  5. Thái Linh nói:

    “Vào đầu thế kỷ 20, các nhà tư tưởng bắt đầu nhìn thấy thêm một điều khác, đó là: để kể “historia” (chuyện/sử), con người dùng ngôn ngữ; và do đó, chính ngôn ngữ là cơ sở của huyền thoại. Trong cuốn Cours de Linguistic Générale (1916), Ferdinand de Saussure nhận định rằng không phải ngôn ngữ diễn tả ý nghĩa của hiện thực, mà ngôn ngữ tạo ra ý nghĩa cho hiện thực. Ludwig Wittgenstein cũng cho rằng ngôn ngữ tạo ra thế giới. Trong Tractatus Logico-Philosophicus (1921), ông viết: “Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi có nghĩa là những giới hạn của thế giới của tôi.”

    Những lời phát biểu này đã lột trần đến mức cuối cùng tính cách huyền thoại của “historia”, và cùng với nó là tính cách huyền thoại của “hiện thực”. Cái thế giới mà con người nhìn thấy trước mắt không chỉ là một huyền thoại, mà là một huyền thoại do ngôn ngữ dựng lên. Nói cho cùng, nó chỉ là một hình ảnh được thêu dệt bởi một hệ thống ngữ nghĩa nhất định trong một khung quy chiếu nhất định. Martin Heidegger viết:
    Những thành ngữ “hình ảnh thế giới của thời hiện đại” và “hình ảnh hiện đại về thế giới” . . . nói đến điều gì đó chưa từng có trước đây […] Hình ảnh thế giới không hề thay đổi từ hình ảnh thời tiền trung cổ thành hình ảnh thời hiện đại, nhưng chính sự kiện rằng thế giới biến thành hình ảnh mới là điều làm bật lên tính thể của thời hiện đại.

    Nhận định này đặc sắc ở chỗ nó cho thấy rằng con người hiện đại nhận ra cái hiện thực thế giới chỉ là một “hình ảnh”, còn con người trước kia đã chỉ tưởng rằng cái hình ảnh về thế giới là cái hiện thực. Heidegger đã tiếp nối theo Nietzsche để lột trần toàn bộ truyền thống siêu hình học từ Plato đến cuối thế kỷ 19 như những sự lừa dối vĩ đại. Nhưng ông đi xa hơn Nietzsche khi ông thấy rằng vấn đề của thời hiện đại không chỉ dừng lại ở chỗ truy tầm ý nghĩa thực sự của giá trị, mà truy tầm ý nghĩa thực sự của chính Hữu Thể (Sein), không phải chỉ là cái hữu thể của cá nhân con người, mà cái Hữu Thể như một sự thực to lớn đã bị đánh mất từ thời tiền-Socrates.”

    (Trích bác Hoàng Ngọc Tuấn)

  6. Huongxua nói:

    bài này trí tuệ wé 3-teen ko hỉu nhưng công nhận anh Xu viết gì cũng hay.

Đã đóng bình luận.