Thiền Tông Giao Chỉ

Đang định làm một entry về Comic Literature cho vui vẻ trẻ trung thì tự nhiên lại bị anh Cao Biền gõ cửa hỏi mấy câu khó. Đâm ra mất thời gian tìm câu trả lời.

Câu trả lời cơ bản thì đã để ở đây rồi.

Nhưng cũng vẫn muốn trả lời kỹ hơn nữa là tại sao Cao Biền giỏi như thế mà vẫn thua trí các pháp sư Mật Tông Giao Chỉ. Bản chất về tư duy trong cái game chiến lược Giao Chỉ vs Cao Biền này là gì?

Khác với chúng ta vẫn nghĩ, thời Vua Hùng chúng ta đã phát triển khá cao. Nước Văn Lang không phải là các bộ tộc Lạc Việt mà đã hình thành một xã hội pháp trị, có công nghệ trồng lúa vượt bậc, có công nghệ làm vũ khí và công cụ dụng cụ bằng đồng. Đặc biệt là có ngoại thương.

Về pháp trị thì hơi khó tin, tuy nhiên thời Mã Viện đã có việc Mã Viện dẹp bỏ Việt Luật mà thay bằng Hán Luật cho nên có thể là nước Văn Lang thực sự đã có Luật, tuy đơn giản (thực ra luật đơn giản mới là thể chế văn minh).

Công nghệ lúa nước và công nghệ đúc đồng thì thể hiện rõ trên hoa văn trống đồng, trống đồng, và truyền thuyết An Dương Vương bắn tên đồng.

Nước Văn Lang (2879BC-258BC) và Âu Lạc (từ 257BC về sau) hồi đấy tuy nhỏ nhưng hình như là thạo việc thương thuyền. Phía bắc thì giáp Tàu, phía nam giáp Chiêm Thành. Đồng thời ở thời điểm đấy trùng với chiến dịch quảng bá Phật Giáo của vua Ashoka Đại Đế (273BC-232BC). Chiến dịch này có ba hướng đi chính: đi Đông Nam Á, đi Tây Á và đi Châu Âu (khu vực Địa Trung Hải)

Và quan trọng nhất là các nhà truyền giáo đi từ Tây Trúc qua Trung Quốc có thể đã đi như thế này: Xuất phát từ Ấn Độ, đi bằng tàu thủy đến Hải cảng Óc Eo (thuộc An Giang ngày nay). Từ Óc Eo, họ đi qua thủ đô của Phù Nam (Angkor ngày nay) bằng kênh đào. Hoặc đi đường bộ lên biên giới Phù Nam-Chăm Pa rồi vượt qua Văn Lang. Từ Văn Lang mới qua Trung Quốc. Lưu ý là Óc Eo là thương cảng lớn nhất hồi đó khi có cả các tàu buôn từ La mã cập bến.

Cũng có thể vương quốc Phù Nam ăn qua cả Ấn Độ bây giờ nên các nhà truyền giáo đi thẳng bằng đường bộ từ Ấn Độ (tức là Phù Nam) qua Văn Lang rồi ngược lên Trung Quốc. Trong truyền thuyết ta thấy các thiền sư như Từ Đạo Hạnh đi Tây trúc dễ cứ như ta rủ nhau nhảy tàu đi Saigon chơi vậy.

Đồng thời có thể thấy là các nhà Truyền Giáo cũng băng qua hướng Nepal để tới Tây Tạng.

Những dòng Mật Tông đang có ở Tây Tạng ngày nay có thể cũng rất giống Mật Tông ở Văn Lang của các vua Hùng ngày xưa.

Truyền thuyết về việc Chử Đồng Tử: Sau khi lấy nhau, một hôm Chử Đồng Tử bàn với vợ: tình hình phải đi buôn em ạ, chứ có nhõn cái khố thế này bất tiện quá. Tiên Dung vốn là công chúa gật đầu liền. Khi chia tay nói với Chử Đồng Tử: anh nhớ mua mấy lọ nước hoa cho em. Chử Đồng Tử từ biệt Tiên Dung và đi về phía nam. Tức là nhằm hướng thương cảng Óc Eo mà tiến. Ai ngờ mới vượt biên giới được một tý thì gặp một cái am nhỏ trên núi, ở đó có sư Phật Quang gốc Tây Trúc. Chử Đồng Tử nghe giảng đạo, bỏ béng ý định đi buôn, theo luôn cửa Phật. Sau đo được sư Pháp Quang tặng một cái nón và một cái gậy phép. Chử Đồng Tử quay về với Tiên Dung rồi đi truyền đạo.

Mật Tông:Phật Giáo Mật Tông cho đến bây giờ vẫn được coi là một thế giới hẹp và bí hiểm. Thậm chí còn được coi là ‘tà’ với phép thuật và ấn chú.Mật Tông là một phái nhỏ và đặc biệt của Phật Giáo Đại Thừa. Mật Tông được truyền trong cộng đồng thiền sư rất hẹp, chủ yếu là direct từ sư phụ qua đệ tử. Cho đến nay gần như chỉ còn bó hẹp ở Phật giáo Tây tạng và Chân Ngôn Tông ở Nhật.

Một trong những lý Mật Tông không phát triển rộng cũng là do thiền phái này rất kén người. Bởi Mật Tông không cứ phải học giáo lý hay có đức tin mà thành đắc đạo. Mật Tông bỏ qua giáo lý và đức tin. Thay vào đó Mật Tông sử dụng sự trải nghiệm và thiền định để người tu hành tự biến đổi năng lượng nội của mình qua các trạng thái của tâm thức. Trạng thái cao nhất là Đức Phật nhập tâm. Phương pháp này gọi là quán tưởng. Quá trình start-up của Mật Tông là ngồi thiền làm sao để người tu hành thiền quán về không tính (đại khái là empty cái bản ngã của mình về trống rỗng, mình không còn là con người vật chất thực tại nữa).

Mật Tông rất hiện đại khi cho phép các cá nhân phát triển hết cỡ. Rất phù hợp với thuyết của anh Nietzche sau này. Chỉ khác một chút là Mật Tông khuyến khích từ bi hỉ xả rất nhiều. Ngoài ra, bản chất của Mật Tông là phi triết thuyết nên cũng rất hiện đại khi không đòi hỏi học giáo lý hay phải có lòng tin vào một triết thuyết.

Mật Tông vào Văn LangNhư vậy là có khả năng Mật Giáo đã vào Văn Lang từ thủa vua Hùng. Tuy nhiên khác với Trung Quốc và Tây Tạng vốn rất mọi rợ vào lúc đấy, dân Lạc Việt có văn hóa cao hơn nên đã localized Mật Tông xịn thành Mật Tông Giao Chỉ.Các concept Hạnh, Hiếu, Nhân, Nghĩa (không có Trí Tín) là xuất phát với nghĩa nguyên thủy có lẽ là xuất phát từ thời Hùng Vương do được localize từ Mật Tông.

Mật Tông còn được bản địa hóa thành một tôn giáo đa thần có phép thuật. Bằng chứng là các truyền thuyết liên quan đến Man Nương (sư bước qua người mà có bầu), sau đó dẫn dắt đến các phái thờ mây, mưa, sấm chớp là Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điển. Các phái này chính là 4 nhánh Mật Tông nội địa hóa đầu tiên do chính các sư tổ là người Lạc Việt lập ra. Các sư tổ này đương nhiên là các phật tử đầu tiên của Việt Nam. Trong đó có Man Nương, một phật tử được truyền thuyết hóa.

Hiện nay các phái Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điển gần như là tuyệt tích. Chỉ còn mỗi Pháp Vân. Cũng một phần là do Thiền Sư Tì Ni Đa Lưu Chi có công phát triển. (Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi tới chùa Dâu năm 580.)

Việc đa thần hóa Phật Giáo Mật Tông của Văn Lang chính là do công nghệ lúa nước của Văn Lang cực phát triển. Họ đã biết làm thủy lợi (điều hòa mưa gió thời tiết).

Điều này cũng lý giải là Chiêm Thành, Chăm Pa, Phù Nam, Cam bốt đều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ còn miền bắc Việt Nam thì hoàn toàn không. Đây là một vết đứt văn hóa. Không phải là do cưỡng lại sự ảnh hưởng mà là do rất cởi mở hấp thụ và chuyển hóa các văn hóa dị biệt đến từ bên ngoài.

Như vậy, Văn Lang của các vua Hùng, có vẻ như còn cởi mở về mặt tri thức hơn chính chúng ta ngày nay.

Phật Giáo qua Trung Quốc

Các Vua Hùng thật ra hơi tham. Truyền thuyết thách cưới Mị Nương với Sơn Tinh Thủy tinh là một ví dụ. Các vua cũng mở bờ cõi về phía bắc. Bọn phía bắc lúc đó là rợ, oánh nhau giỏi hơn, nhiều mưu bẩn hơn (Triệu Đà) nên oánh thắng các con cháu vua Hùng và thôn tính Văn Lang.

Từ đây mới mở ra một sự việc cực kỳ kỳ lạ.

Mã Viện (14BC-49)quyết triệt nền văn minh Văn Lang (cột đồng Mã Viện, bỏ Việt Luật thay bằng Hán Luật). Mà hắn gần như triệt được thật (bằngchứng là hiện nay chúng ta cóc biết qué gì về thời kỳ vua Hùng).

Nhưng một lần nữa lại xảy ra vết đứt văn hóa. Văn hóa Trung Hoa không bị cưỡng hiếp nổi văn hóa Văn Lang như Nguyễn Huy Thiệp phát biểu. Mà một lần nữa, văn hóa mọi rợ của TQ hồi đó bị hóa giải và triệt tiêu.

Không những triệt tiêu tham vọng đồng hóa của người Tàu, Phật Giáo Giao Chỉ còn là quốc giáo của những người yêu nước âm thầm tìm cách đánh đổ ngoại bang. Chính các tướng lĩnh và trí thức yêu nước thời Hai Bà Trưng đã thay tên đổi họ tránh truy sát, về quê làm ruộng hoặc làm sư. Một lần nữa họ lại biến đổi Mật Giáo Giao Chỉ thành một đạo của người Việt yêu nước.

Luy Lâu (Bắc Ninh), thủ phủ của Giao Chỉ thuộc thời kỳ bắc thuộc lần 2 (602-937), trở thành trung tâm Phật Giáo Luy Lâu. Tất cả các nhà truyền giáo đi từ Ấn qua Trung Hoa đều tạt qua và nghỉ chân ở Luy Lâu. Rất nhiều kinh phật được dịch qua tiếng Hoa tại Luy Lâu trước khi được mang qua Trung Quốc để truyền giáo. Nhiều cuốn có thể được dịch từ bản tiếng Việt qua tiếng Hoa chứ không phải dịch thẳng từ tiếng Sankrit.

Các quan cai trị Luy Lâu như Chu Phù, Sĩ Nhiếp đều bị ảnh hưởng của Phật Giáo Luy Lâu và văn minh Âu lạc mà dần dần trở nên dị biệt về ý thức hệ với mẫu quốc Trung Hoa.

Cho tới lúc đó, Luy Lâu có vai trò với Trung Hoa y như Singapore với Việt Nam bây giờ. Rất nhiều du học sinh từ TQ đã đến Luy Lâu để du học (nghe đồn có tới 20 chùa và 500 tăng ở Luy Lâu vào thời kỳ ấy, đại khái giống như 20 trường đại học và 500 ông giáo sư). Các tri thức có tư tưởng tiến bộ (chống Nho giáo) hoặc li khai đều chạy qua Luy Lâu sống tị nạn.

Sau này rất nhiều trí thức đấy quay lại Trung Quốc và thành đạt. Họ đã mang Phật Giáo và Văn Minh của Giao Chỉ trở ngược lại Trung Quốc. Các trí thức tiêu biểu này có thể kể đến Mâu Tử và Khương Tăng Hội. Những người này đã mang một làn sóng văn hóa và tư tưởng vượt trội về Trung Quốc và từ đó Trung Quốc phát triển tàm tạm gọi là ổn cho đến nay. Tuy nhiên bọn này đông dân, lại chịu khó viết lách ghi chép, nên bây giờ ai cũng nghĩ là bọn nó văn minh lắm, cái gì cũng từ nó mà ra.

Như vậy Phật Giáo Trung Quốc là hậu sinh của Phật Giáo Giao Chỉ. Sau đó phát triển theo hướng khác, có thể rực rỡ hơn (do đông dân và lobby chính trị tốt hơn), nhưng bản chất chưa chắc đã hay bằng Phật Giáo Giao Chỉ Gốc (Mật Tông + Đa Thần). Ít ra cũng không thể có được một hình ảnh Đức Phật rất giản dị và thương người, thậm chí còn hơi ngô ngố như Đức Phật có tên gọi Ông Bụt trong dân gian Việt Nam. (Bụt hiện lên hỏi: vì sao con khóc?)

Riêng về Phong Thủy thì khả năng gốc của Phong Thủy của Giao Chỉ là theo phái Hình Thế. Sau này được du nhập qua Tàu, rất thịnh ở đời Đường. Sau đó TQ sinh ra thêm phái Lý Pháp, dùng la bàn tính tính toán toán như các thầy địa lý sau này.

Cuối cùng: sao Cao Biền lại thua trí các thiền sư Giao Chỉ.Các thiền sư Giao Chỉ sử dụng Hình Thế: nhìn vào vị trí và hướng phát triển của Sơn mạch và Thủy lưu. Chính vì vậy các thiền sư Giao Chỉ mới tính ra được Long Mạch của thành Đại La để hướng Cao Biền vào việc xây thành theo đúng quy hoạch. Các cụ cũng tính được việc chấn yểm sông Tô Lịch để tụ khí về Thăng Long. (Tụ khí về Thăng Long không có nghĩa là để Thăng Long sinh ra người tài, mà là để người tài đến Thăng Long mà phát triển).Còn Cao Biền là theo phái Lý Pháp, cầm la bàn đi tính toán linh tinh, thế cho nên là dù rất giỏi nhưng vẫn là sử dụng một lý thuyết méo mó, không phải là tinh tuyền như trong Phong Thủy Giao Chỉ nhà mình. Thế nên bị các cụ nhà mình cài bẫy hết. (Lưu ý rằng chính người Tàu phát hiện ra tính chất định hướng của Nam Châm và chế ra la bàn)

Xem tiếp

+ Phần III: Phong Thủy Thăng Long

+ Phần IV: Nguồn gốc Phong Thủy và Kinh Dịch

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong đạo và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thiền Tông Giao Chỉ

  1. When nói:

    Anh có bao giờ nghĩ đến việc sẽ xuất bản 1 cái gì đấy về những gì mình tìm hiểu đc về sử VN ko ạ?

    Ko phải bây giờ em mới nói lăng nhăng thế này đâu. Cách đây 1-2 năm em nhận ra là sách giáo khoa lịch Sử và cách dạy lịch sử của mình rất rất dở. Em chỉ bắt đầu hứng thú tìm hiểu sử khi đã bỏ học ngồi chơi sau năm 1 đại học, và tình cờ đọc đc vài cuốn sách có chút liên quan đến sử. Chính cái “sử” tình cờ đọc đc ấy mới thôi thúc em tìm hiểu và có ý thức về dân tộc nhiều hơn, chứ kiến thức 12 năm phổ thông, gần như chả đọng lại đc gì… Còn bao nhiêu người ở thế hệ em, hay cả thế hệ anh nữa, ko thực sự hiểu và quan tâm về sử VN, sử thế giới?

    Thực sự em thấy để hệ thống đc 1 cái gì đấy thức sự hoàn chỉnh để xuất bản và gây tầm ảnh hưởng trong 1 lĩnh vực thế này là rất khó. Nhưng nếu những người có hiểu biết rộng ko làm, thì ai làm đây? 😦 Nó ko chỉ là kiến thức, mà còn là sự thôi thúc học hỏi về đất nước và cả thế giới, là lòng tự hào dân tộc… Cảm giác đọc “sử thật” và “sử giáo điều” khác nhau rất rõ ở chỗ đó. Học về chiến tranh mà cứ nếu lên ta bắn đc ngần này máy bay, ngần kia xe tăng, ở chỗ này, vào ngày tháng năm này, thì chỉ là con kiến bò nó leo ra leo vào cái cành cụt mà ko biết mình đang ở trong 1 khu rừng lớn như thế nào.

    Hay anh có quen ông nào chuyên, bảo ông ý viết. Hay bảo ông nào có trách nhiệm chịu khó ngồi hệ thống lại bộ sách giáo khoa 12 năm phổ thông 😀 Mệt thì mệt thật, nhưng em thấy, tuy mệt nhưng mà vui! Đến lúc em tìm hiểu đc rồi (chắc là lâu lắm lắm) mà VN vẫn học sử giáo điều, thì em sẽ viết 1 cái gì đấy! 🙂

Đã đóng bình luận.