Om Mani Padme Hum

om_mani_padme_hum-751948.jpg

1. Om Mani Padme Hum

Đây là câu thần chú phổ biến nhất trong phật giáo. Nhưng để hiểu nó không phải đơn giản. Vì nó quá đơn giản đi, nên khó có thể hiểu nó bằng một trí óc thông thường. Thay vào đó nên hiểu bằng một trực giác không cần phiên dịch.

Câu thần chú này thường được gọi là câu thần chú sáu vần. Sáu vần ứng với mong muốn và phương tiện chấm dứt sự luân hồi của sáu cõi. Toàn bộ câu thần chú là ước muốn và phương tiện để vượt hẳn qua kiếp luân hồi để đạt đến sự hư vô của vũ trụ.

Về bản chất ngữ nghĩa, Om và Hum là hai âm mở đầu và kết thúc của câu thần chú này. Nó chỉ có phần âm mà không có phần nghĩa. Om được phát âm trong tiếng Phạn (Sankrit) với nguyên âm A, bán nguyên âm U và phụ âm M. Nó thể hiện cho sự mở đầu của thân-khẩu-ý (body, speech, mind). Còn Hum thì là sự kết hợp tất cả làm một. Thành kim cương tỏa sáng trong im lặng.

Giữa Um và Hum là Mani và Padme. Mani có nghĩa là châu báu. Padme có nghĩa là hoa sen. Mani Padme có nghĩa là “Châu báu trong Hoa sen”. Châu báu tượng trưng cho tâm. Tâm là năng lượng tự nhiên trong mỗi con người, cần phải được chuyển hóa. Hoa Sen tượng trưng cho siêu trí tuệ. Là trí tuệ kim cương, trong vắt, rực sáng, đa màu, vượt lên trên vô thường vô ngã. Hay còn gọi là trí tuệ Tính không.

Mani và Padme là con đường hoàn chỉnh dẫn đến Niết Bàn. Là con đường giải thoát khỏi đau khổ tội lỗi. Là con đường phá hủy nguyên nhân của khổ đau và tội lỗi. Là con đường dẫn tới trí tuệ tịnh quang (clear light) hợp nhất với thân thể hư không (illusory body). Mani là biểu hiện của con đường đến thân thể hư không, Padme là biểu hiện của con đường dẫn đến trí tuệ tịnh quang.

Đạt đến cõi Niết Bàn là thoát hẳn khỏi kiếp luân hồi, đưa câu hỏi sinh-tử (samasic) ra khỏi tâm thức. Ra khỏi cõi luân hồi, tức là đi vào cõi hư vô, con người hoàn toàn đạt đến sự giải thoát tối thượng, đạt đến sự tĩnh lặng tối cao của minh triết.

“Châu báu trong hoa sen” còn là sự chuyển động của năng lượng. Về bản chất nguyên thủy (khi tôn giáo và triết học còn sơ khai) nó là hình ảnh cách điệu linga trong yoni. Nó là sự chuyển động của năng lượng tình cảm và thể xác của âm dương để đạt đến sự hòa nhập và thỏa mãn cao nhất của tinh thần.

Trong Mật Giáo, nhất là mật giáo tả phái thờ các nữ thần tính dục, Mani còn là nguyên lý dương (chủ động), Padme là nguyên lý âm (thụ động). Chủ động là phương tiện. Thụ động là trí tuệ. Chỉ có kết hợp âm dương mới đi đến Tuyệt Đối (Cực Lạc Tối Thượng). Người Tây Tạng có các hình ảnh Bồ Tát đang giao hợp (Yab-Yum=Cha-Mẹ) để thể hiện triết lý: thỏa mãn đam mê là con đường đến Niết Bàn. Đam mê là Niết Bàn. Các ham muốn (luyến ái, dục lạc) là khởi đầu của một tình yêu vô biên. Các câu thần chú (mantra) có ý nghĩa sơ khai là dùng để quyến rũ các thần. Các câu thần chú kết bằng Hum và Phat là để tán tỉnh nam thần, cụ thể trong Om Mani Padme Hum là để ‘tán tỉnh” đức Quán Thế Âm Bồ Tát (nam).

Mật giáo coi trọng chuyển hóa năng lượng, đặc biệt là năng lượng tình cảm và tâm linh, lên một bậc cao hơn. Mật giáo tìm mọi cách huy động năng lượng tự nhiên trong vũ trụ hòa hợp với năng lượng con người để đưa Châu Báu trong con người nhảy vọt một bước lên Hoa sen. Mật giáo không kiếm tỏa hay phá bỏ năng lượng, thay vào đó Mật Giáo tìm cách biến các động lực tự nhiên của con người, kể cả lòng tham và dục vọng, thành phương tiện giải thoát, để nhảy tới trí tuệ kim cương sáng trói. Trí tuệ kim cương có công năng đập tan mọi chướng ngại, giải thoát con người khỏi mọi đau khổ. Giống như con người muốn ra khỏi hố thẳm của sự tự vấn trí tuệ thì phải dùng trực giác của mình nhảy băng qua hố thẳm để đến được với sự im lặng vĩnh cửu của vũ trụ minh triết. Ở sau bước nhảy phi thường (Hum) đó sẽ là nơi năng lượng và trí tuệ hòa nhập vào một trạng thái bất khả phân chia. Một trạng thái vĩnh cửu của Tính Không. Một sự giải thoát tuyệt đối. Tự do tuyệt đối. Tịnh hóa tuyệt đối khỏi mọi ô nhiễm.

Sự hư vô của vũ trụ (không có gì thực sự hiện hữu) và sự giải thoát tối cao cá nhân mỗi con người khỏi cuộc sống khổ đau (càng trí tuệ cao càng khổ đau) trong câu thần chú Om Mani Padme Hum lại rất gần gũi với hai triết gia lớn nhất và có ảnh hưởng đến thế giới hiện đại nhất đó là Nietzsche và Heidegger.

2. Đến Việt Nam

Phật Giáo, cụ thể là Mật Giáo, đã đến nước ta từ rất lâu, nhưng là đến với cách của một tôn giáo, không phải của một triết thuyết.Triết học, ở Việt Nam, nói chung không được thanh niên yêu thích mấy. Vả lại có quá nhiều việc đáng để quan tâm hơn là triết.Nhưng không có triết học và sự đa dạng của các triết thuyết, về lâu về dài, đã làm cho đời sống văn học nghệ thuật ngày một cằn cỗi đi. Ở ta rất hiếm một tác phẩm, dù là nhỏ, mà chứa đựng đằng sau một triết lý đơn giản nhưng có chiều sâu. Nếu kể tên một ai đó có triết một tý trong các tác phẩm của mình thì có lẽ may ra chỉ có Trịnh Công Sơn (vô thường nhẹ nhàng), Nguyễn Huy Thiệp (triết tiểu nông vụn vặt). Nhưng các tác phẩm của những vị này không có giá trị nhân văn hay tư tưởng gì lớn lao.

Việc đưa triết vào đời sống và thu hút được thanh niên không phải là việc dễ. Đầu tiên là việc chuyển ngữ đã là một thứ rất khó khăn. Ngay cả ở châu âu văn minh, nếu Nietzsche và Heidegger không được dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp một cách kịp thời thì chưa chắc hai ông này đã thống trị tư tưởng Châu Âu trong cả thế kỷ 20 và tới tận bây giờ.

Ở Miền Bắc nước ta, cho đến nay ngoài Marx-Engel được dịch nhiều thì chưa có tác phẩm nào được dịch đầy đủ và cặn kẽ ngoài bản dịch gần đây tác phẩm của Kant (Bùi Văn Nam Sơn). Nhưng có vẻ như dịch Kant (vai trò trong triết giống Bach trong âm nhạc) là không cần thiết lắm. Lẽ ra cần phải dịch cái gì đó gần gũi hơn hiện đại hơn và quyến rũ thanh niên hơn.

Trước năm 75, ở SG đã may mắn có một số trí thức trẻ say mê triết, giỏi ngoại ngữ và có máu văn nghệ ngất trời. Những người này đã hăng say dịch, giới thiệu ra tiếng Việt khá nhiều tác phẩm triết học đang được thế giới quan tâm đúng thời điểm bấy giờ. Bên cạnh các tác phẩm triết học, họ còn dịch các tác phẩm văn học và cận văn học đang ăn khách theo trào lưu triết học phương tây lúc đó. Và thế là ở SG cũ người ta có Schopenhauer, Nietzsche, Heidegger, Henry Miller, Andre Gide, Albert Camus, Jean Paul Sartre… để đọc.

Một điểm may mắn nữa là đa phần các trí thức trẻ đó đều quan tâm và nghiên cứu sâu về Phật Học. Và Phật học, như nói ở trên, có nhiều quan điểm gần gũi với Nietzsche (thuyết hư vô, chủ nghĩa siêu nhân) và Heidegger (sự tồn tại của con người, phá hủy các khung tư duy giáo điều, …)

Việc các trí thức này có kiến thức sâu sắc về triết lý phật giáo, giỏi chữ Sankrit và chữ Hán cũng như giỏi cả tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, biết một chút tiếng Tây Tạng, đã giúp họ, mặc dù chỉ ở độ tuổi 25-26, đã dịch và giới thiệu vô số các tên tuổi lớn lúc bấy giờ sang tiếng Việt.

3. Một vài dịch giả

Trường hợp dị thường nhất là Bùi Giáng, ông này đã dịch Being trong “Being and Time” của Heidegger thành Tồn Lưu. Tôi thì mỗi lần đọc cái từ Tồn Lưu lên toàn nghĩ bậy. Nhưng thực chất cái lý của Bùi Giáng rất rõ trong cả Tồn (Be) và Lưu (ing). Tuy nhiên, tôi thấy cái này cứ kỳ cục làm sao, nhất là nếu áp dụng nó vào ontology (Tồn Lưu Học, hihihi). Vả lại văn phong của Bùi Giáng cực rắm rối, không hiểu sao thiên hạ đọc được, tôi chưa bao giờ đọc nổi một cái gì đó mà Bùi Giáng dịch cả.Công phu nhất và trí tuệ nhất là Phạm Công Thiện và Nguyễn Hữu Hiệu. Phạm Công Thiện rất chịu khó nghiên cứu chữ Phạn và chữ Hán trong phật giáo để chuyển các khái niệm triết học cơ bản nhất của Heiddeger và Nietzche qua tiếng Việt.”Hố thẳm của tư tưởng” của Phạm Công Thiện có lẽ là cuốn sách nhập môn triết được viết bằng tiếng Việt quyến rũ nhất (và tất nhiên là ít nhàm chán nhất). Các bài giới thịêu của Phạm Công Thiện và Nguyễn Hữu Hiệu về Schopenhauer, Henry Miller, Faulkner, Heidegger và Nieztche là cái bài văn hay nhất về triết học hiện đại được viết bằng Tiếng Việt.

Tôi vẫn tin rằng Phạm Công Thiện đã đọc và hiểu Wittgenstein (Philosophy of Language) trước khi Thiện bắt tay vào viết “Hố thẳm của tư tưởng” (khi mới 26 tuổi?). Bởi cách trình bày quan điểm, dẫn dắt và lập luận của Thiện sử dụng ngôn ngữ rất trực giác, không bắt người đọc phải vật lộn với các danh từ mù mờ. Thiện cũng rất cầu kỳ và chịu khó đi đến tận cùng của các danh từ cơ bản (cũng là gốc của triết học) trong nguyên bản tiếng Đức để đối chiếu với các từ đồng nghĩa (triết) trong Sankrit và Hán (phật) để tìm ra từ mà Thiện cho là sát nghĩa nhất. Thiện cũng chịu khó đối chiếu các bản dịch của mình với các bản dịch trong tiếng Anh hoặc Pháp để tìm ra … chỗ sai hoặc thiếu sót của các bản dịch kia. Qua đó hoàn thiện thêm bản dịch của mình.

Trong các công trình dịch thuật của Thiện, tôi cho rằng Thiện đã có những thành tựu đáng ghi nhớ khi đã cố gắng định nghĩa và tái sáng chế (lật đổ) các danh từ triết cũ mà Thiện cho rằng đã dịch quá thô. Một ví dụ điển hình là Thiện không đồng ý với cách dịch metaphysics thành Siêu hình học. Thiện cũng đã dịch Being của Heidegger thành Tính Thể. Thiện cũng rất cầu kỳ khi mò mẫm để nối từng sợi chỉ nhỏ giữa Heidegger và Kim Cang Thừa. “Im lặng” và “Hố thẳm” cũng không phải là hình ảnh do Thiện sáng tạo ra mà là lấy ra từ Heidegger và Phật Giáo. Thiện phân chia dịch giả rất nhắng: dịch nô lệ và dịch sáng tạo. Dịch sáng tạo là nắm lấy thần của tác phẩm rồi nhảy vọt qua tiếng Việt. Giống như hình ảnh nhảy qua hố thẳm của tâm thức mà Thiện rất khoái (không biết Thiện có học vật lý không nữa). Có lẽ đến một lúc nào đấy chúng ta cũng phải nhìn nhận đúng đắn công lao của Thiện trong việc đưa Heidegger vào Việt Nam.

Bên cạnh dịch các tác phẩm triết và văn học cận triết, Thiện cũng dịch và diễn giải rất nhiều kinh Phật, đặc biệt là các kinh sách liên quan đến Kim Cang Thừa.

Xuất phát là một thanh niên công giáo, được thi sỹ Quách Tấn dắt vào chùa, Thiện đã miệt mài học tập và trở thành một thiền giả uyên bác, am hiểu cả triết học hiện đại Phương Tây, triết học Phật Giáo và văn học hiện đại Âu Mỹ. Thiện là bộ óc chính của Đại Học Vạn Hạnh thời kỳ đỉnh cao của ngôi trường danh tiếng này. Việc nghiên cứu triết một cách nghiêm túc và say mê cũng biến Thiện thành một nhà thơ dị thường nhất. Tôi cho rằng “Ngày Sinh Của Rắn” do Thiện sáng tác khi còn rất trẻ là một sản phẩm xuất thần của một nhà thơ mẫn cảm và minh triết. Đây là bài thơ tiếng Việt hiếm hoi, nếu như không nói là duy nhất, mà người đọc cảm thấy cái đẹp của câu hỏi về sự tồn tại của chính mình, của con đường đi kiếm tìm tình yêu, hạnh phúc và sự giải thoát cho tâm hồn. (sự đau khổ về thể xác và trí tuệ cũng có trong bài này, nhưng cái này thì thơ Hàn Mặc Tử cũng có).

Ngược lại với Phạm Công Thiện là Nguyễn Hữu Hiệu. Hiệu không nổi bật và hoành tráng như Thiện. Giọng văn của Hiệu cũng ngắn gọn mạch lạc ngược lại với giọng văn bay bướm, giàu hình ảnh, mạnh mẽ, câu rất dài của Phạm Công Thiện. Nguyễn Hữu Hiệu tuy cũng là người Vạn Hạnh nhưng có vẻ như rất ít sử dụng các triết lý sâu của Phật học trong ngôn ngữ dịch của mình. Tác phẩm dịch công phu và có ý nghĩa nhất của Hiệu (chỉ tính Triết, không tính các tác phẩm văn học) là bản dịch tác phẩm Buổi Hoàng Hôn Của Các Thần Tượng (Hay là triết lý với cây búa) của Nietzche. Ngay trong bản dịch này, lời giới thiệu về Niezsche của Hiệu cũng thuộc lọai xuất sắc, đọc dễ hiểu dễ ngấm, rất ấn tượng. Đặc biệt là đọan Hiệu nhắc đến 10 năm im lặng cuối đời của Nietzsche. Trong lời giới thiệu, Nguyễn Hữu Hiệu cũng nói qua cách Hiệu chuyển thể các danh từ (khái niệm) triết học của Nietzsche qua tiếng Việt. Khác với Thiện, Hiệu dịch Being là Hữu Thể để tách biệt với Phi Thể và Vô Thể. (Cuốn này đã được NXB Văn Học tái bản)

Về dịch văn học của Nguyễn Hữu Hiệu thì thì bản dịch tác phẩm khảo cứu của Henry Miller về Rimbaud (Thời của các kẻ sát nhân) cũng là một bản dịch quá công phu, lời giới thiệu về Miller cũng đặc biệt xuất sắc. Trong khi Thiện có vẻ làm việc dựa nhiều vào cảm hứng và sự mẫn cảm thì có vẻ như Hiệu làm việc giống một chuyên gia nhiều hơn, tuy rằng mẫn cảm của Hiệu về văn chương cũng thuộc lọai trác tuyệt. Bản dịch Phương Pháp Thực Hành Thiền Quán Âm của Đại sư Khenchen Konchog Gyaltshen tuy ngắn nhưng thể hiện cực rõ chất chuyên nghiệp của Hiệu trong công việc dịch thuật. Hiệu cũng khác với Thiện khi Hiệu luôn tìm tòi, dịch, giới thiệu các tác phẩm có tính kích thích sáng tạo. Đỉnh cao là Nietzsche khi hô hào rũ bỏ mọi giá trị cũ kỹ, giải phóng cá nhân, sáng tạo hơn cả chính mình (cận hố thẳm). Còn Thiện thích dịch các tác giả tác phẩm hướng người đọc đến sự giải thoát, tự do, vượt qua bên kia biên giới của vũ trụ vật chất lẫn tinh thần (nhảy qua hố thẳm tư tưởng).

Cuối cùng là Lê Mạnh Thát. Tôi cho rằng Thát mới thực sự là trí thức dấn thân nhất trong giới tri thức phật giáo. Xuất thân là thượng tọa Thích Trí Siêu, sau này có một số vấn đề, rồi được chủ tịch nước Trần Đức Lương ân xá, Thát quay lại đời thường và chú tâm làm nghiên cứu. Có thể trong tương lai không xa, các công trình nghiên cứu của Thát sẽ đưa Thát vào vị thế sử gia hoành tráng nhất của VN cũng như trở thành thiền sư có uy tín hàng đầu khu vực. Trước đây Thát cùng với Tuệ Sỹ là những bộ óc uyên bác của đại học Vạn Hạnh nhưng trái với Tuệ Sỹ (nay vẫn cực đoan quay lưng lại với cả đạo lẫn đời) thì Thát ngày càng chứng tỏ cả tài lẫn đức của mình. Tâm như của Thát mới là Tâm phật. Trí của Thát mới là Trí Kim Cương. Thát là một thiền sư hiếm hoi ở Việt Nam mà uyên bác từ Phật Pháp đến hiện tượng luận của Husserl, chủ nghĩa Marx, và thấu hiểu Wittgenstein (ảnh hưởng rất nhiều trong cách dịch và hành văn).

Cả ba con người này, đều tỏa sáng khi ở độ tuổi 24-27. Rất ngắn nhưng mà rất sáng.

4. Trích đoạn Ngày Sinh Của Rắn

tôi đi đông chìm
trời âm u thung lũng khô
nhiều mây chim bay không nổi
tôi đi
dưới kia sụp đổ
núi Cấm nổ tôi ra
Cửu Long ca từ Tây Tạngmười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngu?
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

5. Trích đoạn vài chú thích trong Suối Nguồn Của Vạn Pháp (Lục-Ngọc-Quang Quan-Âm) của Đại sư Khenchen Konchog Gyaltshen biên soạn, Nguyễn Hữu Hiệu dịch qua tiếng Việt.

[1] Avalokiteshvara (Sanskrit) hay Chenrezig (Tạng-ngữ) chính là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát, hay Quán Tự Tại Bồ-tát, hay Quan Âm Đại Sĩ, thông thường được mô tả hoặc thị hiện dưới dạng ‘nam’ như trong chú Đại Bi hay trong Bát Nhã Tâm Kinh, v.v…

[2] Tara (Sanskrit) hay Dokma (Tạng-ngữ) hường được mô tả hoặc thị hiện dưới dạng ‘nữ’’, chính là Mẹ hiền Quan Âm, hay Nam Hải Quan Âm, hay Quan Âm Thị Kính. Người Việt xưa nay khi nghĩ tưởng đến Quan Âm thường hình dung ra một vị Bồ-tát hay vị Phật trong dạng ‘nữ’’, mặc y trắng, một tay cầm nhánh liễu, một tay cầm bình nước am lồ. Đôi khi, đối với người Việt còn có sự lẫn lộn giữa Quan Thế Âm (dạng ‘nam’) với Quan Âm (dạng ‘nữ’) nhưng tựu chung, cả hai đều là hiện thân của lòng từ bi của đức Phật A-Di Đà và xuất phát từ tên gốc tiếng Phạn Avalokiteshvara.

[3] Theo kinh điển, đức Quan-Âm (Tara) đã nhập thể hoá hiện dưới 21 hình dạng khác nhau, tượng trưng cho 21 đức tính khác nhau, cốt để độ cho tất cả chúng sinh tùy vào căn cơ của họ. Theo Mật-tông, co’ ba pháp môn thiền quán chính yếu liên hệ tới đức Quan Âm là Lục-Ngọc-Quang Quan Âm (Green Tara), Bạch-Ngọc-Quang Quan Âm (White Tara) vá Hồng-Ngọc-Quang Âm (Red Tara): màu sắc này chính là ánh sáng hào quang tỏa ra từ báo thân của đức Quan Âm, tượng trưng cho những đức tính khác nhau. [4] Tám hiểm nguy, sợ hãi đó là: sư tử (kiêu mạn), voi dại (ảo tưởng), lửa cháy (sân hận), rắn rít (ganh tị), kẻ trộm (tà kiến), cùm sắt (tham lam), lụt lội (tham đắm), quỷ sứ (hoài nghi). Hiểm nguy ở đây không chỉ là sự nguy hiểm tầm thuờng như khi ta gặp rắn độc thì sợ rắn độc cắn chết, nhưng còn mang ý nghĩa hiểm nguy vì đây là gốc rễ của phiền não, trói buộc ta vào vòng luân hồi vô tận.

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong sách, đạo và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

6 Responses to Om Mani Padme Hum

  1. thai anh nói:

    xin lỗi bác, nhưng bài này bác đọc được ở đâu vậy?

  2. ruoi nói:

    Em đã hết khóc sau khi gặp chuyện kinh khủng của đời mình và tích cực hơn nhờ nghe câu chú này đó!

  3. langtuvohanh nói:

    Bác cho em xin bài này nhé. Cám on Bác nhiều ạ!

  4. moonlight nói:

    Dẫn giải ý nghĩa của câu chú rất hay. Xin phép copy làm tư liệu.
    Thanks

  5. kienngot nói:

    Thưa bác 5xu! Tôi xin có vài điểm nho nhỏ hỏi bác!

    1) “Và Phật học, như nói ở trên, có nhiều quan điểm gần gũi với Nietzsche (thuyết hư vô, chủ nghĩa siêu nhân) và Heidegger (sự tồn tại của con người, phá hủy các khung tư duy giáo điều, …)” Quả thật tôi không biết tí gì về các triết gia bác nêu, nhưng tôi cũng băn khoăn là đạo Phật có những cái có thể gọi là “thuyết hư vô”, “CN siêu nhân”, “sự tồn tại của con người”? Mong bác giải thích hộ, vì dấu “ba chấm” bác viết ở đây hơi rộng đấy!

    – Về Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ, bác viết “…Thát ngày càng chứng tỏ cả tài lẫn đức của mình. Tâm như của Thát mới là Tâm phật. Trí của Thát mới là Trí Kim Cương.” Trong văn cảnh này, phải chăng bác đang so sánh Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ? Phải chăng tôi nên hiểu Tuệ Sỹ ko có hay chưa có tâm Phật hoặc trí Kim Cương?

    Tôi quý mến tài năng của cả hai vị này, cũng như nhiều vị khác, nhưng tôi không tán dương ai quá mức, và cũng không phán xét họ, vì, bác cũng quá biết, bản thân chúng ta e còn chưa tự phán xét nổi, phải không ạ?

    “Thát là một thiền sư hiếm hoi ở Việt Nam mà uyên bác từ Phật Pháp đến hiện tượng luận của Husserl, chủ nghĩa Marx, và thấu hiểu Wittgenstein (ảnh hưởng rất nhiều trong cách dịch và hành văn).” Xin bác nhớ cho đạo Phật phải là 1 học thuyết, cái đích của người tìm đạo không phải là bất cứ 1 thứ ” -ism” nào cả.

  6. kienngot nói:

    Ôi xin lỗi bác! 🙂 Tôi viết nhầm câu cuối, phải là:… đạo Phật KHÔNG phải là 1 học thuyết…

    Và xin được cảm ơn bác về kiến giải cho câu chú trên.

Đã đóng bình luận.