Đại Sư (Rinpoche) Chogyam

 Hà nội quá nóng.

Phát rồ lên mất.

Giá mà rồ được như Đại Lạt Ma Tây Tạng lừng danh Chogyam Trungpa.

Thượng tọa Chogyam Trungpa là nhà sư đầu tiên truyền bá mật tông Tây Tạng sang phương tây. Ảnh hưởng về mặt trí tuệ, văn hóa và tư tưởng lên thế hệ Beat Generation là cực kỳ mãnh liệt. Các nhân vật tiên phong của trào lưu Beat như Allen Ginsberg và Gary Snyder đều là đệ tử của Thượng Tọa Chogyam Trungpa. Tôi chưa bao giờ đọc cái gì của Allen Ginsberg và Gary Snyder nhưng tôi biết chắc các ngôi sao đại chúng của thế hệ Beat như Bob Dylan, John Lennnon đều chịu ảnh hưởng của Ginsberg. Ngoài ra, một trong những học trò người tây đầu tiên của Thượng Tọa Chogyam Trungpa chính là ngôi sao nhạc rock David Bowie.

Con người của thượng tọa Trungpa cực kỳ phức tạp.

Về mặt dòng dõi thượng tọa Chogyam Trungpa là một trong những dòng Bồ Tát Thị Hiện (Hóa Thân Bồ Tát) của dòng đại sư Trungpa. (Trong phật giáo mật tông tây tạng, các đại sư khi chết đi sẽ đầu thai thành một đại sư khác để tiếp tục sự nghiệp hóa độ chúng sinh. Thượng tọa Chogyam là hóa thân đời thứ 11 của sư trưởng Trungpa Tulku. Tulku có nghĩa là Bồ Tát Thị Hiện).

Vì là bồ tát thị hiện nên thượng tọa Chogyam được giáo hội phật giáo Tây Tạng trân trọng từ khi còn bé tí. Phẩm bậc thượng tọa trong phật giáo Tây Tạng được gọi là Rinpoche (Bảo Quý).

Sinh năm 1939 và mất năm 1987, thượng tọa Chogyam có một cuộc đời ngắn ngủi nhưng vô cùng phức tạp và hoành tráng. Đặc biệt, là một nhà sư có tư tưởng tự do khoáng đạt, sự nghiêp hoằng pháp của thượng tọa ở phương tây cực kỳ vĩ đại, sau này sẽ không còn ai làm được như thế nữa.

Trước khi chết, ông đã kịp uống vô số rượu, hút vô số thuốc lá và cần sa, ngủ với vô số gái (cả sư nữ lẫn môn đệ, cả quyến rũ lẫn cưỡng bức bằng bạo lực), sinh được mấy người con, sáng lập hàng trăm phật học viện trên khắp thế giới, mở trường đại học phật giáo đầu tiên ở Bắc Mỹ (mời Ginsberg dạy thi ca, Burroughs dạy văn chương), trở thành nghệ sỹ lớn với nhiều tác phẩm thi ca, viết rất nhiều sách (thơ và sách đều viết bằng tiếng Anh). Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Cutting through the Spiritual Materialism, Myth of Freedom nay đã trở thành kinh điển.

Đằng sau một cuộc đời điên lọan, nghiện rượu và thuốc, là một bộ não thông tuệ phi phàm, một sự khai sáng đầy minh triết của phật giáo. Ngay cả những lúc say rượu bét nhè nhè, bắt môn đệ đợi hàng giờ trước khi lên giảng, ông vẫn làm cho người nghe choáng váng vì sự hiểu biết và minh mẫn của mình.

Các trung tâm phật giáo của ông giống các giáo phái hippie nhiều hơn. Bản thân ông cũng mặc quần áo tây thay vì mặc đồ phật giáo truyền thống. Các sinh họat tập thể của trung tâm cũng lọan xà ngầu. Các học viên có thể thích và đam mê, có thể sợ vãi đái tuy vẫn hâm mộ. Trong trường hợp sợ, các đệ tử của ông sẽ dùng bạo lực mà cưỡng bách những kẻ sợ hãi kia phải tụt quần áo ra mà hòa vào cộng đồng. Việc các đệ tử nữ bị cưỡng bức ngủ với ông cũng là chuyện bình thường. Các học viên sợ hãi, cáu tiết, phát điên với ông, nhưng tất cả đều cực kỳ trung thành và dâng hiến. Việc thượng tọa Chogyam chọn một người tây, tên là Tendzin, làm người kế tục cũng là một sự kỳ quái. Ông Tendzin này là phật tử phương tây đầu tiên có vị trí hoành tráng như vậy mặc dù ông này bị đồn đại là đồng tính và suốt ngày ngủ với môn đệ mà không có biện pháp phòng chống gì ngay cả khi biết mình đã bị nhiễm HIV. Nhiếp chính Tendzin là tác giả của cuốn sách Buddha in the Palm of Your Hand. Ông Tendzin qua đời vì HIV-AIDS năm 1990. Tuy nhiên vợ của Chogyam có nói rằng Chogyam đã hối hận khi chọn Tendzin làm nhiếp chính nhưng chưa kịp bãi miễn thì qua đời do suy gan.

Sinh năm 1939, đào tẩu khỏi Tây Tạng năm 1959 khi Trung Quốc chiếm Tây Tạng, thượng tọa Chogyam tới Ấn Độ và học tiếng Anh ở đây. Sau đó ông qua Anh để học đại học Oxford. Sau đó ông qua Scotland và tham gia sáng lập một thiền viện đầu tiên ở đây. Trong số các môn đệ của ông tại thiền viện này có ngôi sao nhạc rock quái dị David Bowie. Ở Scotland, một lần say xỉn mà lại lái xe thể thao, thượng tọa Chogyam bị tai nạn và sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều kể từ đấy.

Năm 1969 ông qua Bhutan và tu thiền một mình. Sau đó ông quay trở lại Scotland và lột xác hoàn toàn: mặc đồ âu, lấy một cô gái trẻ người Anh làm vợ. Qua đây ông bày tỏ một niềm tin rằng Phật Pháp muốn truyền bá được ở tây phương cần phải được truyền bá theo đúng văn hóa của nó: không lệ thuộc vào hình thức bên ngoài đồng thời vẫn giữ bản chất truyền bá Phật Pháp là không cần phô bày sự quyến rũ của Phật pháp mà để tín đồ tự họ bị quyến rũ.

Đến năm 1970 ông và vợ ông qua Mỹ và kể từ đây đến cuối đời ông sáng lập khoảng 150 thiền viện. Năm 1974 ông mở đại học phật giáo đầu tiên của phương tây, có tên là Naropa University. Trường đại học này cho đến nay là học viện phật giáo đầu tiên và duy nhất được công nhận ở Bắc Mỹ. Trong thời kỳ ông lãnh đạo trường, ông đã biến học viện phật giáo này thành chỗ hội tụ của văn nghệ sỹ hàng đầu của Mỹ lúc bấy giờ (đa phần là dân pop culture và dân avant-garde). Bản thân ông cũng là nghệ sỹ tham gia truyền bá thơ thiền, thư pháp và nghệ thuật sắp đặt.

Ông cũng là người dịch và sáng lập tổ chức dịch thuật tại học viện Naropa. Chính ông là người dịch Tử Thư Tây Tạng qua tiếng Anh.

Năm 1987 ông qua đời do suy gan vì uống rượu. Giống như các đại sư mật tông khác, xác ông không bị thối rữa ngay và trái tim ấm nóng rất lâu sau khi ông chết. Đám tang của ông có cầu vồng hiện lên.

Vài tháng sau, ông đầu thai vào Bồ tát thị hiện đời kế tiếp có tên là Chokyi Sengay. Vị bồ tát hiện sinh trẻ tuổi này được công nhận chính thức năm 1991.

Hiện nay, ở Mỹ, có một thượng tọa khác tuy không có cuộc đời phóng túng và điên lọan như thượng tọa Chogyam, nhưng tưởng tự do, sức ảnh hưởng và sự nghiệp hoằng pháp của ông ở đất tây phương cũng vô cùng hoành tráng. Đó là thượng tọa Tarthang. Cũng giống như Chogyam, Tarthang cũng là một bồ tát thị hiện (tulku), cũng đào tẩu khỏi Tây Tạng qua Ấn Độ, cũng là một tay bút lớn viết thẳng tác phẩm bằng tiếng Anh. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Time, Space and Knowleged hiện được giảng dạy ở rất nhiều trường đại học danh tiếng, ở nhiều bộ môn khác nhau, từ Tóan, Vật Lý đến Triết học. Ngoài Time, Space and Knowledge, thượng tọa Tarthang cũng là tác giả của vô số các cuốn sách khác, trong đó có Operres Mind và Skillfull Means. Tác phẩm Time, Space and Knowleged được coi là cuốn sách truyền bá phật giáo hay nhất, giải quyết được tất cả các vấn đề khó khăn của nhân lọai. Và lại rất gần gũi với thuyết tương đối của Einstein mới hay chứ. Hiện thượng tọa Tarthang là một trong những đại sư có ảnh hưởng nhất tại Mỹ và phương tây.

Mật tông Tây Tạng.Mật Tông (Kim Cương Thừa), do các biến thể có tính chất dị đoan của nó, đã bị thất truyền, hạ thấp và mai một. Gần như chỉ có mật tông Tây Tạng là gần như còn nguyên vẹn như xưa.Mật Tông là con đường ngắn nhất để đạt tới giác ngộ của phật giáo. Nó được ví như một con đường dốc ngược để leo lên đỉnh núi. Hoặc là leo lên được và tốn ít thời gian. Hoặc là ngã chết. Mật Tông vì vậy có luôn hai mặt của quá trình giác ngộ: Siêu Việt và Nguy Nan.Có nhiều cách để gạt bỏ các cản trở nội tâm để trở thành giác ngộ theo triết lý phật giáo. Mật Tông là cách giải thoát đặc biệt nhất. Sau nhiều thế kỷ bị hiểu nhầm do có sử dụng phù phép tà thuật, sự nghiệp quảng bá phật giáo của các đại sư Tây Tạng ngày nay đang giúp lấy lại giá trị đích thực nguyên sơ của tông phái này.Mật Tông có rất nhiều phái. Nhưng tựu trung lại chỉ có 4 môn phái lớn là Cổ Mật, Truyền Khẩu, Đất Xám và Đạo Đức (hay còn gọi là Hoàng Mạo do sư theo phái này đội mũ vàng). Cả bốn môn phái đều sử dụng chú, trực giác và biến đổi năng lượng. Mật Tông là con đường ngắn nhất để giải thoát chúng sinh nên không phải Đại Thừa hay Tiểu Thừa mà được gọi là Tối Thượng Thừa (một bước thành Phật).Thượng tọa Chogyam có lẽ là theo phái Truyền Khẩu nên đặt tên học viện phật giáo của mình là Naropa. Naropa là Nhị Tổ của phái Truyền Khẩu. Phương thức giảng đạo của thượng tọa Chogyam có lẽ cũng là truyền khẩu khi thượng tọa chủ yếu giảng bài trực tiếp và môn đệ khai sáng rất nhanh.

Mật Tông vào Việt Nam có lẽ là phái Truyền Khẩu nên mới có tên là Mật (bí mật, chỉ có thầy và trò Tâm truyền Tâm mới hiếu). Hai vị sư Mật Tông nổi danh duy nhất ở Việt Nam là Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. Gần đây có thêm thượng tọa Thích Viên Thành.Mật Tông coi trọng chuyển hóa năng lượng. Đặc biệt tình cảm được coi là năng lượng mạnh nhất. Các đam mê (dục) như sắc dục, mê rượu, mê thuốc đều được xếp vào loại năng lượng này. Mật Tông không chủ trương diệt dục theo cách khổ hạnh mà thay vào đó chủ động đón nhận năng lượng và chuyển hóa nó lên bậc cao hơn. Đặc biệt Mật Tông coi trọng năng lượng âm dương (nam nữ).Dựa trên tư tưởng vũ trụ là sự hợp nhất viên mãn, Mật Tông coi Phật là chính là vũ trụ thân. Vũ trụ thân lại là pháp thân và pháp thân biểu hiện trong mọi hiện hữu, sở dĩ chúng ta không nhận thấy được vì tâm thức mê mờ, chúng ta chỉ thấy thế giới là bất an và khổ đau vì thiếu trí tuệ Kim cương; trí tuệ Kim cương có công năng là phá tan mọi chướng ngại pháp. Con đường trở về hợp nhất với vũ trụ thân, nói cách khác, muốn đi vào quỹ đạo của pháp thân phải có những tác pháp thiêng liêng, thể hiện sự gia trì giúp ta thể nhập một cách sâu xa và phổ quát của pháp giới tính. (Riêng đọan này copy và viết thế thôi chứ thực ra tôi cũng không hiểu lắm)Cơ sở để Mật Giáo phát triển là các thần chú Đà La Ni.Câu thần chú nổi tiếng nhất của Mật Tông là: Om Mani Padme Hum. Trong truyện Tây Du Ký thì Ngộ Không bị Bồ Tát nhốt xuống chân núi, trên có bùa phép ghi Úm ma ni bát mê hồng (là phiên âm hán việt của câu thần chú này).Mani có nghĩa là phương tiện, Padme là trí tuệ, Om là âm tiếng phạn, lúc phát âm bao gồm cả thân, khẩu và ý niệm. Om có nghĩa là giác ngộ. Đọan dưới đây trích từ bài viết của lạt ma Zopa Rinpoche, do Thanh Liên Việt dịch. “Như vậy, đây là ý nghĩa của OM MANI PADME HUM; sự bắt đầu, hay nguyên nhân, của con đường, bản thân con đường, và kết quả. Nó giống như một cái cây với gốc, thân và quả.OM MANI PADME HUM cũng bao gồm mọi sự hiện hữu – sự duyên sinh và tánh Không: mani và padme. Mọi sự hiện hữu được gồm chứa trong hai chân lý; mọi điều này được bao hàm trong mani và padme: chân lý tuyệt đối trong padme, và chân lý quy ước, chân lý của tâm hoàn toàn bị ngăn che, trong mani.”Còn về việc hành lễ thì dùng cả Tam Mật. Tam Mật là gì thì đọc doạn sau đây, copy từ sách của cụ Thích Viên Giác, có chú thích thêm cho dễ hiểu:

Như đã nói, Tam mật là thân mật, khẩu mật và ý mật. Theo Mật tông, để đạt được khả năng điều động năng lượng vũ trụ hay năng lượng tâm linh thì phải thực hành nghi thức đúng phép gồm cả ba lãnh vực của thân, khẩu, ý. Thân thể tác động qua điệu bộ, nhất là của hai bàn tay, được diễn theo lời thần chú sẽ tạo nên thái độ tâm linh phù hợp theo một điểm. Miệng đọc các (thần chú), âm thanh biểu tượng, là hiện tượng thiêng liêng làm cho rung động nội tâm của hành giả. Tâm ý thì quán tưởng mandala, tạo thành một thể thống nhất để thể nhập Tam mật của Phật.

Đọan này nói khi thiền định hoặc làm lễ thì phải dùng cả thân mật (ngôn ngữ cơ thể), khẩu mật (ngôn ngữ nói) và ý mật (ngôn ngữ tâm tưởng). Chữ mật có nghĩa là thần chú, là phương tiện đặc biệt để kết nối vật chất và tinh thần. Riêng phần thân mật có các động tác giống như múa (bắt quyết) hoặc sắp đặt cơ thể (cơ thể nam nữ nằm quấn vào nhau) – 5xu

Tam mật của Như Lai bản thể bình đẳng, không giới hạn, có mặt khắp pháp giới, hay nói cách khác: mọi hình sắc đều là thân mật, mọi âm thanh đều là khẩu mật, mọi lý đều là ý mật. Như đã nói, thân Phật và thân vũ trụ là một nên quan điểm về thân mật trong Mật giáo lấy tư tưởng trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm làm cơ sở. Sự hiện hữu của thân không đơn giản là một hữu thể độc lập, mà có các mối quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài, hay nói cách khác là với cái không phải thân. Điều kiện mà thên tồn tạo gồm cả pháp giới, gọi là mọi hình sắc là thân. Tương tự trong Trung Bộ kinh, Phật dạy quán sắc uẩn bao gồm nội sắc, ngoại sắc, thô tế, liệt thắng, xa gần đều không hiện hữu (vô ngã). Sự mầu nhiệm hay bí mật của thân là cái mầu nhiệm của thân vô ngã.

Tương tự như thân, về ngữ mật thì mọi âm thanh đều là ngữ mật. Thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới được biểu hiện bằng ngôn ngữ, mọi thứ đều có tên gọi, mọi thứ đều được khái niệm hóa qua ký hiệu ngôn ngữ, mọi vật đều được nhận thức và giải thích qua mẫu tự và văn cú, ngôn ngữ diễn biến linh động để làm hiển lộ cái mầu nhiệm bên trong, đó chính là sức mạnh của âm thanh. Mật tông cho rằng thế giới được tạo ra bởi 14 nguyên âm và 33 phụ âm. Thể nhập thực tại qua ngôn ngữ âm thanh là một phương cách đặc biệt của Mật tông.

Ý mật là sự cảm nhận một cách trực tiếp của tâm. Đó là cái tâm thuần túy, không bị chi phối bởi các kiến thức, không phải cái tâm suy nghĩa có đối tượng, mà tâm ấy nguyên vẹn đơn sơ cảm nhận trực tiếp thực tại vô ngã, thực tại vô ngã ấy được cảm nhận qua nhiều khía cạnh khác nhau. Thế giới tâm là một, Duy thức học gọi là thế giới tánh cảnh. Tâm nhận thức trực tiếp những gì đang diễn ra như thường nói: “Đương thể tức không”. Đó là thực tại được cảm nhận một cách tích cực.

Thực hành tantra (nghi thức) là tạo thế cân bằng hòa điệu của thân tâm, rồi tạo mối quan hệ hay sự nối tiếp thân khẩu ý các vị tương ứng với Tam mật của Phật, Phật cũng chính là vũ trụ thân. Đó là sự thể hiện hòa điệu giữa con người và vũ trụ. Sự gia trì Tam mật của Phật sẽ nhập vào Tam mật của ta. Đó gọi là Tam mật tương ưng hay Tam mật du già.

Du già là Yoga. Người tu theo yoga (yogis) được gọi là hành giả du già – 5xu

Xem thêm: Om Mani Padme Hum và  Thiền Tông Giao Chỉ

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong đạo. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Có 2 phản hồi tại Đại Sư (Rinpoche) Chogyam

  1. Kukumalu viết:

    Nhân cái bài này giá mà anh có thêm 1 bài về Osho thì hay quá nhỉ??? Phật giáo xa rời thực tế cuộc sống ở chỗ nó đòi diệt dục. Thế nên Chogyam hay Osho thu hút được nhiều đệ tử vì các vị này vốn coi dục là một năng lượng chuyển hóa, hay như Osho nói mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Vừa được sướng vừa lên được nát bàn ai chả thích theo, he he.

    Kiến thức của em thì còn lâu mới được coi là lỗ mỗ nhưng em rất khoái Osho ở năng lực quan sát, cách đặt vấn đề, Dynamic Meditation và nguyên tắc tỉnh táo, quan sát, nhận biết của ông ấy.

    Thích những bài trữ tình của anh, sự liên tưởng logic trập trùng, và dừng đúng lúc 🙂

    Have a nice weekend:)

  2. ngosituc viết:

    Anh có vẻ quan tâm đến Phật giáo Kim cương thừa nhỉ. Em thì không biết nhiều về Mật tông, trước giờ cứ tưởng các câu chú thì đơn giản là một công cụ cho sự thức tỉnh tâm linh, không ngờ là nó cũng có nghĩa cụ thể. Về vấn đề chuyển đổi năng lượng thì em thấy ông thầy Nhất Hạnh hình như có dạy ở Làng Mai, bằng chứng là một bài viết của một tăng thân Làng Mai mà em đọc được trên báo Giác Ngộ có nói về vấn đề này. Em nghi là ông thầy Nhất Hạnh có ý lập riêng một tông phái riêng thì phải?
    Em thấy tìm hiểu về Mật tông rất thú vị, tuy nó hơi… vô nghĩa, vì cái uyên áo nhất của nó thì mình có đọc trăm ngàn sách vở cũng bằng không bởi phương tiện truyền thừa bí ẩn của nó. Thầy Thích Thiện Hoa có viết trong Phật học phổ thông là Mật tông không thể diễn đạt hay lĩnh hội đơn thuần qua văn bản, nó phải là sự thực hành tam mật như anh đã nêu, và phải được nằm trong một môi trường truyền thừa của riêng nó nữa. Mà đã là mật thì người ngòai đành pó tay.
    Em rất có hứng thú với các bài viết của anh. Chúc anh sức khỏe.

Bình luận đã bị đóng.