Yunus, Giải Nobel và Tài chính Vi mô

“One day our grandchildren will go to museums to see what poverty was like.”
Muhammad Yunus, founder of the Grameen bank, quoted in The Independent 5 May 1996

Yunus là người vừa được giải Nobel hòa bình năm vừa rồi. Thành tích chủ yếu là giảm đói nghèo ở Bangladesh thông qua các khoản tín dụng vi mô (microcredit/microloan) tới người nghèo để giúp họ tự kinh doanh ở dạng hộ gia đình hoặc sản xuất nhỏ (microentrepreneur) với số vốn lưu động nhỏ. Ông Yunus còn gọi cộng đồng doanh nghiệp vi mô này là “social-consciousness-driven entrepreneurs” bởi họ vay tiền theo nhóm, tự giác kiểm soát lẫn nhau về việc trả nợ và lãi vay cũng như không để các cá nhân trong nhóm rơi vào tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả.

Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 dollar tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèo vay) thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen. Hiện nay ngân hàng này có tới 2100 chi nhánh.

Tuy nhiên, câu phát biểu được trích dẫn phía trên của Yanus là một câu nói có tính chất lạc quan tếu bởi bản chất của microfinance/microcredit chỉ đủ biến nó thành một công cụ mạnh giúp người dân nghèo thoát khỏi cảnh nghèo chứ không phải là công cụ phát triển để xóa đói nghèo.

Tín dụng cho người nghèo theo quan điểm cũ:

Đây là dịch vụ tài chính có tính chất từ thiện, do chính phủ hay các tổ chức xã hội tài trợ. Ở Châu Âu tín dụng cho người nghèo có từ thế kỷ 19. Thời WWI thì ở Đức có tới 1.4 triệu người nghèo hưởng lợi từ dịch vụ tài chính này. Ở Ấn Độ thì con số này là 9 triệu vào năm 1946.

Thực tế cho thấy chính phủ phải bỏ tiền rất nhiều vào dịch vụ tài chính này do: chi phí giao dịch cực cao do nhiều lý do khác nhau. Ví dụ như địa bàn rộng (Mekong delta), phải quản lý quá nhiều khoản vay nhỏ, phải có tí đút lót quà cáp cho cán bộ tín dụng thì mới được vay nhanh và nhiều), tỷ lệ thu hồi nợ cực thấp (18% ở Bangladesh, 41% ở Ấn Độ, ở VN thì không rõ).

Đằng sau dịch vụ tài chính cho người nghèo như trên là các quan niệm lạc hậu:

+ Kinh doanh tài chính: tín dụng cho người nghèo không có khả năng sinh lời

+ Phương pháp giải quyết vấn đề: coi người nghèo là vấn đề mà chính phủ phải ra tay giải quyết.

+ Chi phí quản lý cao: cái này thì hồi xưa chưa có IT thì công nhận cao thật.

+ Người nghèo thì ngu dốt, đưa tiền thì cũng tiêu xài hết, tín dụng mà làm gì.

Từ đây đưa ra các kết luận có tính chất man rợ:

+ Người nghèo như củ khoai. Cách tốt nhất giúp họ là cai trị họ theo kiểu quân phiệt gia trưởng.

+ Dân chủ với người nghèo là không tốt. Cho họ dân chủ (quyền tự quyết cho cuộc sống của họ) tức là thả họ trôi vào ngưỡng chết đói.

+ Người nghèo sẽ mãi mãi nghèo.

Tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới:

Việc ngân hàng Grameen của Yunus ra đời ở Bangladesh đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm tín dụng cho người nghèo. Về mặt bản chất, tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới là:

+ Người nghèo quá nhiều (hàng tỷ). Họ vừa là vấn đề phải giải quyết, họ cũng chính là phương tiện giải quyết vấn đề. Hay nói cách khác, họ phải tự giúp họ.

+ Người nghèo, nếu có cơ hội làm ra tiền, sẽ thanh toán nợ (tất nhiên tâm lý xù nợ ở người nghèo là có, nhưng sẽ có cách kiểm soát).

+ Tài chính vi mô (microfinance) sẽ là trung gian tài chính để đưa vốn đến người nghèo.

Và với vai trò trung gian này, tín dụng vi mô phải là dịch vụ tài chính có sinh lời, chứ không phải là làm từ thiện. Ngoài ra tín dụng vi mô nên là tư nhân, tránh sử dụng trợ giá của nhà nước để không sa vào họat động kém hiệu quả do tham nhũng, cho vay nhầm đối tượng để hưởng chênh lệch lãi suất.

Chính vì quan điểm mới có tính nhân bản cao hơn mà các tổ chức tín dụng vi mô bị các tổ chức cực đoan tấn công. Các chi nhánh của Grameen bị các tổ chức hồi giáo đặt bom (vì đã cho phụ nữ vay tiền để họ tự lập), các cán bộ tín dụng ở Ấn Độ bị tấn công, các chi nhánh tín dụng vi mô ở Nepal bị cướp. Đặc biệt bọn buôn ma túy cố gắng tàn phá hệ thống tín dụng vi mô vì chúng sợ người nghèo tự sống được sẽ không tham gia vào hệ thống trồng và vận chuyển ma túy.

Phương pháp tính:

+ Phân người vay thành hai nhóm rõ ràng: nhóm đầu tư rủi ro cao và nhóm đầu tư an toàn. Nhìn từ phía tổ chức tín dụng thì không phân biệt được ai là nhóm nào. Nhưng từ phía người đi vay thì họ biết ai giống mình và ai khác mình (tức là ai thuộc nhóm nào).

+ Sẽ không cho vay theo cá nhân mà vay theo nhóm (cluster). Lãi suất như sau: Nếu cả nhóm thành công thì trả lãi vay r*, nếu cả nhóm thất bại thì không phải trả lãi vay, nếu có người thành công có người thất bại thì người thành công trả một khoản c* gọi là khoản đồng trách nhiệm (ở đây c* có vai trò trói các thành viên vào để nâng đỡ nhau)

+ Có một vài công thức simple ở đây, đại khái là có tí xác suất, tính toán một hồi sẽ ra được r* và c* hợp lý. (c* của nhóm rủi ro > c* của nhóm an toàn)

+ Với r* và c* hợp lý thì: khi đi vay, các nhóm kinh doanh an toàn sẽ hội với nhau để cùng đi vay, các nhóm liều lĩnh cũng hội với nhau để đi vay.

+ Như vậy tuy ngân hàng không phân biệt đối xử về giá (lãi suất) với người vay, nhưng tự động người vay sẽ phân nhóm.

Phương pháp thực hiện

a. Cho vay theo nhóm (group lending):

+ Các cá nhân tự tìm đến nhau theo nhóm. Tự giám sát nhau.

+ Một phần của nhóm được vay trước, sau đó số các thành viên được vay tăng dần.

+ Nếu một người không trả, cả nhóm phải trả hộ (chính là phần c*)

+ Làm việc với tổ chức tín dụng theo nhóm, chi phí giao dịch và quản lý giảm

b. Vay tăng dần (progressive lending, step lending)

+ Lúc đầu cho vay chút chút, sau tăng dần.

+ Thời gian đáo hạn lúc đầu ngắn, sau dài ra.

(Như vậy sẽ phân lọai được những nhóm thanh toán đúng hạn, nhóm này sẽ có credit line tăng lên, tức là hạn mức vay tăng dần lên)

c. Thanh toán theo kỳ (regular repayment)

+ Để monitor người vay trả nợ đúng hạn hay không. Nếu sai hạn tức là có vấn đề và alert ngay.

+ Điều chỉnh lịch thanh toán theo mùa: hộ kinh doanh cá thể nghèo thường là chăn nuôi, làm đồ thủ công, gia công … nên tính chất mùa vụ rất cao.

d. Tài sản thế chấp: Không yêu cầu. Chỉ cần người vay có một số điều kiện nào đó vừa phải, ví dụ có ruộng, hay có nghề truyền thống.

Thực Tế:

Trên thực tế, Grameen làm ăn có lợi nhuận và phát triển liên tục (hiện có tới 2100 chi nhánh). Lãi suất của Grameen cũng khá cao chứ không thấp như người ta suy đoán. Ngân hàng này sử dụng các mẹo nhỏ về tính toán lãi suất và thời gian trả (theo kiểu installment) để tăng lãi suất hiệu dụng mà người vay không bị tâm lý là đang vay với lãi suất cao.

Tác động và Hiệu quả

Người vay của Grameen có tới 97% là phụ nữ, tỷ lệ trả nợ rất cao (98%). Lý do cũng không phải đơn giản là phụ nữ ít trốn nợ hơn mà là do họ được gia đình cử đi vay và đứng sau họ (lao động để trả nợ) chính là chồng và con họ. Tác động xấu của việc này là nhiều trường hợp hộ sản xuất nhỏ đã phải cho con nghỉ học để ở nhà làm thêm.

Tín dụng vi mô cũng làm tăng chi tiêu gia đình. Các khoản vay cho kinh doanh đôi khi lại được dùng để tăng chi tiêu. Ở tỷ lệ nào đó việc fungibility như vậy là tích cực (tăng mức sống). Nhưng nếu chi tiêu cao quá thì tức là hộ gia đình đã tăng chi tiêu hiện tại và cắt giảm chi tiêu tương lai. Thậm chí cụt vốn kinh doanh. Trong một số trường hợp khác nữa thì vay nợ tín dụng lại được dùng để làm gối đầu họăc trả nhanh cho các khoản vay khác giống như chơi họ (hụi) hay cầm đồ ở Việt nam.

Tín dụng vi mô còn có tác động tích cực đến việc kích thích năng khiếu kinh doanh nhỏ (microentrepreneur) của người vay, đặc biệt là phụ nữ. Để sử dụng vốn vay thành công, tự thân người vay phải tìm tòi cách tính toán đồng tiền cho hiệu quả, nâng cao các kỹ năng quản sản xuất hộ gia đình (chăn nuôi, làm hàng thủ công, gia công), các kỹ năng bán hàng (tiếp thị, mở rộng quan hệ ra vùng xung quanh hoặc vùng xa). Tuy nhiên cho đến nay các tác động này cũng rất giới hạn bởi năng suất và công nghệ của các hộ kinh doanh chỉ ở mức thấp do họ chỉ chăn nuôi và làm thủ công.

Bên cạnh đó nghề thủ công truyền thống lại hay có tính địa phương nên nếu tất cả cùng “thấy ăn khoai cũng vác mai đi đào” sẽ xảy ra cạnh tranh méo mó, dẫn đến sụp đổ cả làng nghề (như Bát Tràng). Bản thân sản phẩm của các hộ gia đình cũng bị giới hạn ở chất lượng và tính đa dạng cũng như khả năng (kỹ năng) thực của người dân cũng rất giới hạn. Tổ chức Craftlink ở VN trước đây đưa cả designer Tây đến các vùng làng nghề của người dân tộc để tạo mẫu cho sản phẩm của chính người địa phương, sau đó còn đưa cả người dân tộc lên Hà nội tổ chức hội chợ, phân phối hàng cho các khu phố cổ bán cho Tây. Đến nay hiệu quả của họat động này cũng không tốt như mong muốn khi mà Tây rút đi để người dân tộc tự làm.

Đối tượng hưởng lợi từ tín dụng vi mô cũng không phải là những người nghèo nhất, mà là những người nghèo vừa vừa. Bởi do các khoản vay không cần thế chấp nên các hộ có tí tài sản (có cái vườn, có cái ao, có mẩu ruộng) mới được vay. Người vay thành công với vốn vay cũng phải là những người có tí kỹ năng và có tí máu doanh nghiệp. Các khu vực mà có người được vay tín dụng vi mô cũng là các khu có điều kiện giao thương tốt. Các khu vực cách trở núi non thì đương nhiên vẫn là những người nghèo nhất.

Quan trọng nhất là tín dụng vi mô chỉ giúp người nghèo vừa vừa bớt nghèo đi, tự chủ được cuộc sống của mình mà không sợ rơi vào ngưỡng chết đói. Nó không phải là công cụ xóa đói nghèo thực sự mạnh và có tác động đến nền kinh tế của các nước thứ ba. Nhưng nó giúp người nghèo biết được quyền làm người tự do, không quá phụ thuộc vào giới buôn ma túy hay dựa vào tiền xóa đói giảm nghèo của chính phủ. Nó cũng là động lực để người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo chịu khó học hỏi (kể cả là home-schooling) và phát huy các kỹ năng tiềm ẩn của mình. Riêng đối với phụ nữ thì nó còn là công cụ tạo ra bình đẳng giới nữa.

Advertisements

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong phát triển. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Yunus, Giải Nobel và Tài chính Vi mô

  1. Kikiko nói:

    Ok, rat thik y ng ngheo la van de nhung chinh ho la giai phap

  2. có link nguồn bài này ko cho em xin

Đã đóng bình luận.