Tag Archives: sách

Đọc Đèn Cù thế nào?

Cách đây mấy năm tôi có nói chuyện với chú Trần Đĩnh. Chú ấy rất thích trinh thám (cái này giống chú Tạ Chí Đại Trường quá) và rất thích thể loại “nonfiction novel” của Truman Capote. Đây có lẽ là lý do chú ấy già rồi mà vẫn dịch cuốn In Cold Blood của Capote cho Nhã Nam (Máu Lạnh). Chú Đĩnh cũng là người viết Bio cho các nhân vật cộng sản (điển hình hoặc lãnh tụ), trong đó có Bất Khuất. Đọc Đèn Cù, sẽ thấy chú Đĩnh còn rất thích các tự truyện mà được đánh giá như là tiểu thuyết (ví dụ của M. Gorky). Không phải vô cớ mà chú Đĩnh đặt Đèn Cù của mình vào thể loại sách mà chú gọi là “truyện tôi”. Nó là truyện (chứ không phải sử, không phải ký), nhưng mà của và về tôi.

Về cách viết. Chú Đĩnh nhận mình là bồi bút (trong sách tự nhận mấy lần). Thực chất chú ấy là “cây bút của chế độ”. Được chế độ sủng ái. Lý do không phải chú ấy đỏ rực. Mà, cái này tôi đoán, là văn phong của chú ấy rất hợp với việc tô hồng, anh hùng hóa, điển hình hóa các nhân vật của chế độ. Trong sách chú có kể mình được một nhà văn khác khen là viết muscle. Tức là văn chương cơ bắp cuồn cuộn. Lúc kể cho tôi chi tiết này, chú còn diễn lại hành động của nhà văn kia, bằng cách chụp lấy vai và bắp tay tôi lắc lắc rồi nói cái câu ấy. Giờ ta nhìn lại, quả thấy cái giọng văn chắc nịch, mà tôi thấy có nhiều câu bỏ cả giới từ, đọc khó hiểu, nhưng rắn chắc như lưỡi mai xắn vào đất thịt, lại rất hợp với các kiểu anh hùng ca để tô hồng cách mạng. Lê Đức Thọ ve vãn chú Đĩnh viết Bio cho mình, chắc cũng mơ màng mình đi vào sách với sự cứng cáp oai hùng (nhờ ngòi bút của cây bút được Trường Chinh và Hồng Hà ái mộ). Qua đây mới biết nhân tài cầm bút dưới bóng của chế độ ấy hiếm như thế nào. Tầm cỡ Sáu Búa phải đi ve vãn tác giả của Bất Khuất, có thể thấy chất lượng đội ngũ cầm bút phục vụ tuyên truyền của chế độ xoàng đến thế nào. Đọc tiếp

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Đọc tiếp

Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry  Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ  “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa  của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở VN và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu. Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của The Quiet American , và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American .

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên Nha văn khố trung ương Hà Nội. Sau đó kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế. Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội.  Năm 1945  ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu ” “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi – Hội Khai xuân ở Hà Nội”.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam,  và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian  ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Đọc tiếp

GoRin No Sho

Lời giới thiệu Ngũ Luân Thư

Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến cực kỳ khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15 tháng thứ 9 niên hiệu Keichō (Khánh Trường) thứ 5 (ngày 21 tháng 10 năm 1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi Seikigahara là “tử địa” vì trong trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết. Sekigahara cũng được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.

Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi (Cung Bản Vũ Tàng), bước vào trận chiến Seikigahara với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, là phe rốt cuộc đã thua trận chiến này. Kiếm khách trẻ và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến. Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát. Sau đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Musashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Niten Ichi Ryū (Nhị Thiên Nhất Lưu). Sau này ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).

Người ta vẫn nói: để hiểu được một người Nhật đi ra thế giới bên ngoài để kinh doanh thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh Nhật bước chân vào tử địa Sekigahara.

Để hiểu được việc các quan chức chính phủ hoặc doanh nghiệp Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và tướng quân của mình bị ô nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sĩ đạo.

Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hàng ngày thế nào, các tập đoàn Nhật lập chiến lược kinh doanh ra sao, các chính trị gia Nhật ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm thánh Miyamoto Musashi.

Đọc tiếp

Great Gatsby 3D và những thứ khác

Great Gatsby 3D

Biết nói gì về bộ phim này khi nhân vật chính đã chết y như trong truyện và còn nhân vật phụ hóa ra không được rõ nét.

Lẽ ra trước khi nói về bộ phim ta cần viết dăm điều (thuổng của tây) về cuốn tiểu thuyết. Phải thuổng của tây vì tiểu tuyết Great Gatsby dễ hiểu nhưng có những chỗ lại khá mù mờ. Cho đến bây giờ giới phê bình thượng thặng của tây vẫn còn thắc mắc tại sao nhân vật Nick Carraway (narrator) lại hâm mộ Jay Gatsby đến thế. Thậm chí họ còn hỏi nhau, cho đến tận bây giờ, là tại sao và nghĩa gì cái chữ Great ở trong cái tên Great Gatsby ấy.

Đọc tiếp

Qui Củ

Phan Văn Hùm, một lãnh tụ đệ tứ ở miền nam, trong trước tác có tên “Vương Dương Minh – Thân thế và Học Thuyết”, có giải thích Qui Củ như sau. Qui: đồ vẽ hình tròn (compas). Củ: đồ để vẽ góc vuông (équerre).

Com-pa, thước kẻ, ê-ke, thì quá là quen thuộc.

Cái chú thích “quy củ” này là chú thích do đoạn văn sau của Vương Dương Minh (viết năm 152x gì đó):

“Lương tri như quy củ. Hình tròn hình vuông số nó vô cùng, không thể biết trước hết. Duy lấy qui củ mà đều vẽ ra được tất cả, chẳng hạn ở một cái nào. Những tiết mục thời biến cũng vô cùng số, không thể biết trước hết. Duy nhờ lương tri mà ứng biến, cũng như qui củ ứng biến những hình tròn vuông”.

Phan Văn Hùm xuất thân nông dân miền nam, nhưng chắc là học giỏi, học đến cao đẳng ở HN. Sau chống Pháp bị Pháp bắt, giam ở Khám Lớn. Rồi đi Pháp du học, lấy cử nhân và thạc sĩ triết ở Sorbonne.

Cuốn “Vương Dương Minh – Thân thế và Sự nghiệp” của Phan Văn Hùm do Tân Việt xuất bản ở Hà Nội năm 1944. Hai năm sau thì ông chết. Bị giết rất bí ẩn (có thuyết nói ông bị Việt Minh ám sát). Nhà Tân Việt này có số sát học giả. Cùng năm 1944 này, họ xuất bản cuốn “Sử ký Tư Mã Thiên” của Nhượng Tống, một trí thức thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Năm 1949 thì Nhượng Tống bị giết (cũng được cho là công an mật của Việt Minh giết).

Phan Văn Hùm dùng kiến thức triết phương tây của mình để nhìn vào học thuyết của Vương Dương Minh, đâm rất thú vị. Đọc tiếp

Âm lịch Việt Nam và chuyện Mồng –Rằm

Tại sao có ngày Sóc – Vọng, lại có ngày Mồng một – Mồng rằm? Mà không có ngày mồng mười một, mồng mười hai?

Lát sẽ nói.

Tết rồi tôi về nhà, chui vào thư viện tìm cuốn Lịch và Lịch Việt Nam của Hoàng Xuân Hãn, bản in ở Pháp, rất lâu rồi (Tập san xã hội số đặc biệt). Mà tìm mãi không ra. Hồi bé đọc cuốn này chả hiểu gì, đến lúc muốn tìm hiểu lại thì không có sách. Cay thật. Nhân tiện, âm lịch là món cực kỳ phức tạp, bỏ hết mấy cái “phù thủy tính” của âm lịch đi thì nó vẫn rất là khoai, vì nó không phải lịch mặt trăng thuần túy (dựa theo chu kỳ tự nhiên và khách quan của tự nhiên) mà có lai tạp cả với lịch mặt trời (khí hậu và mùa, quỹ đạo elip của quả đất, góc nghiêng mặt phẳng quỹ đạo này nọ, do con người tính toán).

Hồi học cấp 2, tự nhiên có năm mà gia đình các bạn cùng lớp ăn hai cái Tết âm lịch. Các bạn ấy bảo là (chắc do bố mẹ các bạn ấy giải thích thế): nước mình ghét Tàu nên đổi lịch âm, cho khác Tàu, nên cái tết đúng là cái tết theo tàu, cách sau tết ta 1 tháng.

Rồi sau này nghe chuyện Mậu Thân đánh nhau phối hợp sai vì Tết Bắc lệch Tết Nam.

Đọc tiếp

Linh tinh sách

Dưới đây là ba bài ngắn đều là về sách. Bài đầu là từ một status ngắn (từ FB) về cuốn sách đang ở hạng nhì danh mục sách bán chạy Tiki. Hai bài tiếp theo là một bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần và một bài thì ngược lại: phỏng vấn dịch giả Phạm Nguyên Trường cho báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần.

1). Sách của Jun Phạm: Nếu như không thể nói nếu như

Đọc tiếp

Lan man dắt sách qua đường

Các đây mấy hôm, nhân các bác ở trên facebook làm ầm ĩ trong cảnh yên lặng về một vụ ngã ngựa dịch thuật, tôi đã viết một cái note ngắn trên facebook của mình để bênh vực các bạn tư nhân làm công tác xuất bản một chút.

Bài viết ấy, ngoài một số lập luận thuần lý, còn lại là vô số các ý kiến cảm tính của tôi. Cảm tính, bởi tôi luôn cố gắng nhìn mọi việc, dù tệ đến đâu, bằng cái nhìn thiện cảm.

Để có thể thiện cảm với mọi việc, không chỉ đơn giản là tâm niệm trong lòng, mà phải rèn luyện, thực hành cái cách nhìn thiện cảm ấy.

***

Tôi không biết nhiều lắm về Aristotle, tôi chỉ biết mang máng là ông này làm chủ nô, và có quan điểm rất đặc biệt về đạo đức. Đạo đức theo quan điểm của Aristotle, là phải thực hành, có lẽ phải thực hành từ tấm bé.

Nó hơi khác với cái “nhân chi sơ tính bản thiện”, nghe thì rất sướng tai, nhưng mà ẩn chứa sự lười nhác và phó mặc.

Đọc tiếp

What Sticks

What Sticks: Why Most Advertising Fails and How to Guarantee Your Succeeds” là tên một cuốn sách về quảng cáo và tiếp thị của hai tác giả Rex Briggs và Greg Stuart.

Không giống như các cuốn sách về quảng cáo khác, thường nhấn mạnh vào sáng tạo, ý tưởng và rất hấp dẫn bạn đọc, cuốn sách What Sticks khô khan hơn nhiều bởi nó chỉ nhấn mạnh vào hiệu quả và hiệu dụng của các chiến dịch quảng cáo. Tức là rất nhiều con số, cách đo lường và phương pháp.

Bạn có thể lờ mờ nhận ra điều này khi chỉ nhìn vào bìa của cuốn sách và thấy Steven D. Levitt viết lời mở đầu cho cuốn sách. Steven D. Levitt là giáo sư kinh tế của Đại học Chicago (hình như cùng trường với giáo sư toán không-sợ-hãi) và tác giả của cuốn sách Freakconomics. Nếu ai đã từng đọc Freakconomics sẽ nhận thấy ông giáo sư Levitt này rất thích thống kê, dữ liệu và các phương pháp phân tích dữ liệu và …xã hội học.

What Sticks, ngay từ đầu, đã dẫn dắt bạn đọc theo cách tiếp cận của những con số. Vài chục năm trước đây người ta đã biết một nửa chi phí quảng cáo bị tiêu xài vào những chỗ không hiệu quả, nhưng không biết nửa nào là nửa lãng phí. Ngày nay, sự lãng phí ấy thậm chí còn lớn hơn một nửa. Hai tác giả của cuốn sách đã có những khảo sát kỹ lưỡng về chi phí và lợi ích của quảng cáo (thật là kinh tế gia đấy) ở 30 công ty nằm trong danh sách Fortune 200. Họ nhận thấy riêng ở Mỹ đã có 112 tỷ dollar quảng cáo bị lãng phí, và do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của các tập đoàn. Con số tính toán của các tác giả cho thấy khoảng 47% chi phí của các chiến dịch quảng cáo đã không work (chả biết dùng từ gì, không work, tức là vứt). Đọc tiếp