Tag Archives: nhảm

Chuyện học sách

Phi lộ một câu: Lúc đầu định viết về học sách (học thuyết và sách lược) như một bổ túc ngắn cho bài Con đường của rồng, nhưng rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, thành ra bài viết rất dài dòng và lan man này.

I. Phần 1

Sách lược (hành động) đề cập ở đây là sách lược chính trị. Sách lược chính trị không thể đứng một mình, dù ít hay nhiều cũng phải dựa  vào các học thuyết (phát triển) kinh tế, xã hội và quân sự. Nhưng ở Việt Nam thì nói chung cái gì cũng khác.

Quay trở về quá khứ, ở ta đã có lúc học thuyết và sách lược đã có lúc bị trộn lẫn và diễn đạt ra thành lời chỉ trong một vài từ, ngắn tũn và bí hiểm.

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” tương truyền là một “học thuyết” do Trạng Trình phán ra rồi được các Chúa Nguyễn sử dụng để phát triển vương quốc, và sau này thành một đế chế rộng lớn, của riêng dòng họ mình. Từ quan điểm hiện đại, nhìn vào nội hàm của câu sấm, có thể thấy “học thuyết” này có cơ sở lý luận là “địa chính trị” / “không gian sinh tồn”. So với thời điểm ấy thì tư tưởng của Trạng Trình dạy cho chúa Nguyễn rất tiên tiến, nên nhà Nguyễn thành công cũng là dễ hiểu. Còn mục đích mà lập luận hướng tới là để “lập quốc” và “đất nước” này chỉ là để nuôi dưỡng và phát triển một dòng họ (từ đẳng cấp quan nhà Lê, lên lãnh chúa, và cuối cùng thành vua). Nó không phải là học thuyết để xây dựng một nền xã hội công bằng văn minh. Từ đó sách lược (đường lối thực hiện, hành động) của các Chúa Nguyễn cũng không vượt ra khỏi tầm vóc của “học thuyết vắn tắt” này, tuy về sau họ có phát triển học thuyết từ “khả dĩ dung thân” lên “vạn đại dung thân”.

Bây giờ nhìn lại, rõ ràng những gì chúa Nguyễn thực hiện, từ Nguyễn Hoàng tới lúc Gia Long lên ngôi đều có các đặc tính của việc một cường quốc (Đế quốc Đại Nam) hình thành thông qua mở rộng không gian sinh tồn (Friedrich Ratzel): bành trướng thông qua việc chiếm và sáp nhập các vương quốc yếu hơn, đường biên giới mềm, chỉ có giá trị tạm thời trong quá trình bành trướng. Suốt thời của các chúa Nguyễn, kể cả thời binh đao với Tây Sơn đến thời Gia Long lập quốc thì biên giới luôn mềm. Thời Minh Mạng, thậm chí đến tận thời Ngô Đình Diệm, đế quốc này còn thể hiện một đặc tính nữa theo Ratzel: Dân tộc văn minh hơn cưỡng bức các dân tộc bị thôn tính phải theo văn hóa của mình. Có thể nói nhờ tư tưởng gói gọn trong “một câu” mà Trạng Trình truyền cho mà nhà Nguyễn vượt xa nhà Trịnh về chính trị và sách lược hành động. Có thể nó cũng đi vào tiềm thức nên học thuyết Darwin xã hội sau này được ưa chuộng ở Nam Kỳ thuộc Pháp và trong nhóm các cụ Đông Du.

Tương tự như vậy  “giữ chùa thờ phật thì ăn oản” là một “học thuyết” kèm luôn “sách lược” mà Trạng Trình truyền cho cho nhà Trịnh. So với học thuyết dành cho nhà Nguyễn thì học thuyết này cũ kỹ hơn nhiều, sách lược cũng hẹp và nông hơn (chỉ để ăn). Triết lý của học thuyết này là đề cao tính chính danh (của nhà Lê) để kiếm ăn (cho họ Trịnh). Nó cũng gần gũi với triết lý dân gian “ăn cây nào rào cây đấy”. Nhà Trịnh về cuối lũng đoạn chính quyền, quân đội, tham nhũng, sống xa hoa, … đều không thoát ra khỏi triết ký của “học thuyết một câu” này.  Do sự khác biệt giữa hai học thuyết nên dù xuất phát điểm nhà Trịnh tốt hơn nhà Nguyễn nhiều lần nhưng về sau nhà Trịnh kém nhà Nguyễn cả về chính trị, kinh tế và phần nào là quân sự (bốn lần chúa Trịnh kéo quân đánh miền nam thì thua cả bốn). Nạn Kiêu Binh làm đảo lộn Bắc Hà  cũng từ cái gốc của “giữ chùa, dựng phật” này mà ra. Đọc tiếp

Mùa mưa và ngày 30.4

Hôm rồi  tôi rủ bạn bè: Ngày 30 tháng 4 phải đi uống bia chứ nhỉ, xét cho cùng thì không có ngày này thì hội mình không có ngồi đây.

Thực ra trong nhà, vợ tôi đã nói như vậy từ hồi mới cưới. Không có 30/4 của mấy chục năm trước thì ta không gặp được nhau thế này. Dù rằng mỗi sáng tháng Tư đi chợ Tân Định, về nhà vợ tôi vẫn bảo: ngoài chợ người ta vẫn nhắc hôm nay họ đánh đến đâu, đánh đến đâu. Ở Sài Gòn, ngoài chợ, có những người bình dân vẫn nhớ những ngày tháng tư ấy, thay vì chào nhau buổi sáng người ta nhắc lại những ngày cuối cùng của mấy mươi năm trước.

Nhóm bạn thì tếu táo: Không có ngày này, chắc tôi sẽ là một thằng con ông cháu cha nho nhỏ, đi du học Bắc Hàn. Không có ngày này chắc em đang ở Hà Nội và hô khẩu hiệu Lê Chủ Tịch muôn năm.

Không có ngày này, chắc chúng ta đang dùng ngôn ngữ mao-ít. Chủ tịch Kim Chính Ân, thay vì Kim Jong Un. Đọc tiếp

Ông Ba Bị, Mẹ Mìn và …

Ba bị chín quai

Ba bị chín quai mười hai con mắt, hay bắt trẻ con, gọi tắt là ông Ba Bị, là một câu nói kiểu đồng dao, thường dùng để dọa trẻ con.

Mười hai con mắt = 6 người = 1 tiểu đội (bây giờ).

Ba bị mà có chín quai = mỗi bị ba quai.

Đây chính là cách hành quân thần tốc của Tây Sơn. Mỗi tiểu đội quân chính quy (thân binh) có 6 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Mỗi nhóm có một cái bị to, có ba quai. Thiết bị, lương thực, nước uống của cả tiểu đội quăng vào cái bị ấy. Rồi cứ thế mà đi bộ ra Thăng Long. (Có thể họ đeo súng trên vai, các đồ khác mới cho vào bị, ba quai xỏ vào 2 đòn gánh loại ngắn hình chữ lambda λ, đi thành hình tam giác nhọn, một người đi trước, hai người đi sau).

Ngày xưa đường không như bây giờ, ngoài việc là đường đất thì còn phải vượt qua rất nhiều sông ngòi đầm lầy, đi bộ kiểu này là nhanh nhất. Quân Tây Sơn là quân đội phương nam (không có mùa đông), quân trang nhẹ và ít, nai nịt gọn gàng, ăn nghỉ rất khắc khổ. Khi chiếm đóng Thăng Long lần thứ nhất, người Bắc Hà rất ngạc nhiên khi quân Tây Sơn ngủ ngoài trời, trên mặt đất.

Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, quân Tây Sơn vừa hành quân vừa bắt lính ở các làng mình đi qua rất dã man. Già cũng bắt, thiếu niên cũng bắt. Ai còn khỏe và là lính thì xung quân, còn không thì làm dân công. Thanh niên ở vùng từ Hà Tĩnh đổ ra bị bắt nhiều nhất, nên dân sợ chết khiếp, từ đó hình thành câu đồng dao này (gốc gác của câu đồng dao này có thể là từ vùng Hà Tĩnh). Dần dần Ông Ba Bị thành hình ảnh đe dọa trẻ con.

Ông Ba Bị dùng bạo lực bắt người, khác với Mẹ Mìn là dụ dỗ lừa người. Mẹ Mìn  xuất hiện ở nông thôn Miền Bắc thời kỳ Pháp mộ phu đi Sài Gòn, đi Tân Thế Giới này nọ. Mẹ Mìn dụ dỗ thanh thiếu niên lên Hà Nội rồi bắt bán cho bọn buôn người, rồi bọn này bán cho các sở mộ phu. Các bọn lừa phụ nữ bán sang Trung Quốc bây giờ chính là “mẹ mìn” hiện đại. Nguồn gốc của việc buôn người, có thể có từ thời Trần. Vào thời Trần có thể đã hình thành một thị trường buôn nô lệ, bao gồm buôn bán tù binh Chăm .

 

SlowHand Đọc tiếp

Long Nhượng Tướng Quân

Nguyễn Đức Thành có lần trả lời câu hỏi ‘Ai là nhà vua lập quốc, Nguyễn Ánh hay Nguyễn Huệ” như sau: Nguyễn Huệ có công san lấp mặt bằng, Nguyễn Ánh lập quốc.

Quả thực, đế quốc Đại Nam của Minh Mạng, mọc lên từ nước Việt Nam của Gia Long Nguyễn Ánh. Nước Việt Nam của Nguyễn Ánh được xây trên hoang tàn của ba mươi năm nội chiến. Một hoang tàn đổ nát tận gốc rễ xã hội mà di sản tồi tệ của nó còn tồn tại đến tận ngày nay. Bù lại, 30 năm nội chiến ấy đã thống nhất đất nước cả về địa lý: cao nguyên, đàng trong, đàng ngoài; cả về thể chế chính trị: cho vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài  và chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào sọt rác. Xóa bài làm lại từ đầu.

Công cuộc san lấp mặt bằng cấp quốc gia của Nguyễn Huệ bắt đầu khi ông 24 tuổi (1777), cùng Nguyễn Lữ cầm quân chinh phạt Gia Định, giết chúa Nguyễn lúc đó là Nguyễn Phúc Thuần; và rồi kết thúc năm khi ông 36 tuổi (1789) bằng chiến dịch nay được gọi là chiến dịch Việt – Thanh, đánh trong vòng 5 ngày sạch bách liên quân nhà Lê (Chiêu Thống) và nhà Thanh (Càn Long – Tôn Sĩ Nghị). Danh tướng Hứa Thế Hanh của Càn Long bị đập phát vỡ tan ở chuỗi phòng ngự Hạ Hồi – Ngọc Hồi. Hậu duệ của ông tướng này là Hứa Thế Hữu sau cũng vâng lời Đặng Tiểu Bình qua Việt Nam đánh nhau thua nhưng về nước vẫn được báo công (cách đây mấy năm báo Hà Nội Mới có bài ca ngợi Hứa Thế Hữu hết lời). Đọc tiếp

Tuyên huấn Vịt

Ai ở ngoài bắc thời kỳ đóng cửa, sẽ không quên được loa truyền-thanh.

Nó là hệ thống truyền thanh kéo đến từng khu tập thể, vào tận hộ gia đình. Loa không cần pin hay điện, tự nó kêu. Cũng không có nhiều “kênh” để lựa chọn, chỉ có một nút để chỉnh to nhỏ.

Hồi đấy tất nhiên không có internet. Không cả truyền-hình.

Chỉ có “Đài tiếng nói Việt Nam – phát đi từ Hà Nội”. Mãi sau này có thêm các đài địa phương và sau nữa là FM.

Ngoài dùng mắt để đọc báo Nhân Dân, toàn dân chỉ có một kênh thông tin duy nhất để nhập liệu bằng tai. Mọi người phải nghe một thứ giống nhau.

Ngây ngô thế mà lại hay phát nhạc …cổ điển. Có giới thiệu đàng hoàng. Tên nhạc sĩ toàn nghe bằng tai, không biết mặt chữ thế nào. Văn hóa này kéo dài mãi về sau, ngay cả khi đã có truyền hình và sóng ngắn FM để nghe qua radio nhập khẩu của Nhật.

Có một bài hát rất oách, các bác thử đoán xem là bài gì. Là bài “Khúc hát Nàng Son Vếch” trong vở “Piếc Guyn” của nhạc sĩ “Gờ-Rích” do Lê Dung trình bày. Hay vãi chưởng. Sau này có youtube, lên nghe tây hát “Solveig’s song” trong “Peer Gynt”, so với họ mới biết trình Lê Dung chưa bằng lỗ đít con vi trùng. Nhưng mà nhớ lại vẫn thấy hay.

Sau có mạng, mới dò từ Grieg ra Ibsen, rồi từ Ibsen ra Kierkegaard (bác Ibsen hăng hái lăng xê bác Kierkegaard). Bác Kierkegaard này chết rất lâu rồi mới nổi. Chết năm 1855 mà hình như đến 1910 mới được dịch ra tiếng Đức. Nghe đồn Kafka đọc xong phát mê tít. Bác Kier nay được coi là tổ sư hiện sinh. Bạn nào đọc Huyền thoại Sisyphus (NXB Trẻ dịch là Thần thoại Sisyphus) sẽ thấy bác Kier đứng cùng lố nhố một lô các bác sư tổ hiện sinh. Cuốn này, phần kết thúc, Camus viết một đoạn dài về Kafka, hay vãi đạn.

Tinh thần hiện sinh ở khía cạnh đề cao cá nhân và tự do của bác Kier xuất hiện ở khá nhiều nơi, mà có khi ta không để ý. Ví dụ câu nói “bám lề là việc của bầy cừu không phải việc của con người tự do”  rất gần gũi với tư tưởng của bác Kier. Bác Kier nếu còn sống và biết đi xe máy, hẳn sẽ đánh võng như điên.

Bác Kier kính Chúa mà ghét nhà thờ (giáo hội). Giáo hội đã quá xa rời quần chúng, biến báo thông điệp của Chúa để ru ngủ giáo dân và bảo vệ quyền lực độc tôn của mình.

Để đả phá nhà thờ bác ấy viết truyện “Tuyên Huấn Vịt”. Bản tiếng Anh gúc chữ “Duck Church” là ra. Có hai từ khóa của câu chuyện rất vắn này:một là wings (đôi cánh), hai là waddle (đi lạch bạch).

Bản tiếng Việt như sau.

Có một xứ sở anh hùng, dân toàn là Vịt. Chi bộ cũng toàn Vịt, tất nhiên. Bí thư, tuyên huấn cũng là Vịt, và được trả lương để quạc quạc.

Một ngày đẹp trời, lũ vịt lạch bạch kéo nhau đi họp.

Đọc tiếp

Chiếm và Giữ

Dùng bản đồ quân sự thời chiến tranh Nam Bắc 1967-1975 để đọc các sách về các map21bchiến dịch của …Nguyễn Huệ ở Đàng Trong thấy rất thích. Nói cách khác, đọc sách về các chiến dịch quân sự ở Đàng Trong của Nguyễn Huệ, ta nên dùng bản đồ quân sự của chiến tranh Việt Nam, sẽ thấy rất dễ hiểu.

Đọc các chiến dịch của Nguyễn Huệ và của các tướng bên phe Nguyễn Ánh ở vùng Gia Định, rồi đọc về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1967-1975, rồi xem bản đồ (giờ trên internet có rất nhiều), lờ mờ nhận ra: Miền Nam (nam trung bộ đổ vào) rất dễ đánh, dễ chiếm và đồng nghĩa là rất khó giữ. Quang Trung cũng thấy vậy nên không cố công mà giữ. Tất nhiên vì không bỏ công ra giữ nên Đàng Trong trở thành bàn đạp để Nguyễn Ánh lập quốc (và tất nhiên sau khi Quang Trung chết).

Cũng có thể lờ mờ nhận ra một điều nữa: vai trò của Cambodia rất quan trọng. Bình định được nước láng giếng này thì an toàn từ Cao Nguyên đến vùng biển Hà Tiên, tức là một không gian cực kỳ lớn. Đồng thời ổn định được quan hệ kiểu viễn giao với Thailand và Myanmar. Cho nên việc Việt Nam qua Cambodia lật đổ Khmer Đỏ có tác hại (khốc liệt) trong ngắn hạn, nhưng có lợi ích trong dài hạn. Đây cũng có thể là lý do mà Ngô Đình Nhu quyết lật đổ chỉnh quyền ở Cambodia bằng đảo chính mà thất bại nặng, để lại một đống tai họa góp phần đưa quân đội VNCH sau này của tổng thống Thiệu vào thế yếu. Mặc dù nhìn trên bản đồ, thấy quân đội VNCH bố trí phòng ngự đẹp ra phết, Quang Trung còn sống chắc cũng chỉ nghĩ đến thế là cùng. Nhưng mất Cambodia, và quân đội đánh đấm và phối hợp kém, rồi Mỹ ký Paris, thì  ở cái vùng dễ chiếm khó giữ này, thua mới là đúng. Đọc tiếp

Air America

15vanesobitBức ảnh nổi tiếng về sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 là bức ảnh có caption “Cuộc di tản bằng trực thăng trên nóc nhà tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4”. Ảnh do Hubert Van Es lúc đó làm cho United Press chụp.

Bức ảnh này được chụp khoảng 2h30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tòa nhà trong ảnh không phải là tòa nhà đại sứ Mỹ  (nay đã bị phá và xây tòa lãnh sự mới) mà là tòa nhà Pittman Apartments ở 22 Gia Long (nay là 22 Lý Tự Trọng, nằm cạnh trường Trần Đại Nghĩa, đi xuôi Đồng Khởi, rẽ trái độ vài chục mét là tới). Hubert Van Es chụp bức ảnh này từ ban công office của mình trên tòa nhà khách sạn Peninsula Hotel.

Cái máy bay Huey nhỏ trong tấm hình nổi tiếng này cũng không phải là trực thăng của hải quân Mỹ, mà là của Air America, một hãng hàng không tư nhân do CIA bí mật sở hữu.

Chỉ trong riêng hai ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975 đã có 7,014 người được đưa ra tàu của hải quân Mỹ bằng máy bay, trong đó Air America được ghi nhận thành tích không vận khoảng hơn 1,000 (có tài liệu nói tới 5,595 ) người ra tàu của hải quân Mỹ, hoặc tới các điểm trung chuyển (tòa đại sứ, cơ sở của DAO ở sân bay Tan Sơn Nhất, Cam Ranh). Máy bay của hải quân Hoa Kỳ chủ yếu bay từ sân tennis của tòa đại sứ hoặc từ Tân Sơn Nhất, Cam Ranh ra tàu quân sự ngoài biển.

Những chuyến bay giải cứu của Air America trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn trước khi sụp đổ khá ngoạn mục. Các cú hạ cánh lên nóc nhà trong thành phố (Sài Gòn và Cần Thơ) đều là do Air America dùng trực thăng thực hiện. Phi công của Air America cũng sử dụng máy bay vận tải để di tản người từ căn cứ lớn nhất của họ ở Việt Nam là Đà Nẵng ra Cam Ranh.

Trong số những người di tản bằng trực thăng từ nóc tòa nhà Pittman có Trần Văn Đôn và Trần Kim Tuyến.

Đây là lần thứ hai Air America tham gia không vận ở Việt Nam. Năm 1954 họ tham gia cầu hàng không lớn nhất thế giới ở thời điểm ấy, chuyển được khoảng 20 ngàn người di cư từ miền bắc vào nam. Trong các chuyến bay ngược từ Nam ra Bắc họ chở biệt kích, điện đài, súng và thuốc nổ để phục vụ các chiến dịch phá hoại miền bắc sau 1954. Các chiến dịch này đều liên quan đến Lansdale và Conein. Conein lúc này sử dụng vỏ bọc MAAG và có văn phòng ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng. Nhiệm vụ bề mặt của văn phòng này là giám sát di cư ở đầu miền bắc. Ở Hải Phòng vũ khí được chôn ở nghĩa trang thông qua các đám ma giả. Ở đồng bằng bắc bộ, vũ khí thuốc nổ và điện đài được chôn dọc theo sông Hồng. Mãi đến năm 1964 công an miền Bắc mới tìm được vài  kho vũ khí bí mật này. Điệp viên gửi ra miền bắc bằng máy bay của Air America sau đều sợ quá nên lại… lên tàu di cư vào Nam cùng những người lính Pháp cuối cùng. Những người nhái được đào tạo và thả từ biển vào, hoặc biệt kích nhảy dù sau 1954 đều bị miền bắc bắt và giam đến 1975. Người làm thất bại các chiến dịch phá hoại hậu phương này được cho là Phạm Xuân Ẩn và các bạn của ông. Đọc tiếp

Tiệm mì, Ngã tư, Sài Gòn, Biển Đông

(Copy một loạt từ FB về đây).

1. Hoa mộng

Hôm nay lần đầu tiên trong đời bước chân vào McDonald. Lại là McDonald ở Sài Gòn. Nhạc Mỹ bình dân, quán đông đúc ồn ào vui vẻ. Có những người trung niên quần áo xộc xệch vụng về bưng khay thức ăn tìm chỗ ngồi. Nhiều gia đình đi cả nhà, dáng vẻ bình dân, tự tin gửi xe vào quán. Có cả người già, đến ăn chắc để có chút không khí, giúp nhớ nhung con cháu đi định cư Hoa Kỳ kinh tế khó khăn mấy năm nay không dám về.

McDonald đến Việt Nam hơi muộn, nhưng giấc mơ xuất cảnh định cư mấy chục năm nay dường như vẫn ở nguyên đấy, trong những người lao động bình thường và những người trung lưu ủ mưu tích tiền để gửi con đi du học.

Tuần rồi báo chí đưa tin bác Cả đi thăm nước hồi trước là Liên Xô. Nhìn ảnh các bác già khụ mà tung tăng như trẻ nhỏ trong clip, lại nhớ đến những sinh viên Hà Nội thế hệ 5x, 6x, gày gò, xộc xệch, ngày ngày vác sách đến khoa mác-lê cắm mặt vào học. Bụng đói, đầu xanh, quần tích kê hai mông thật to, vừa nuốt chửng mác lê vừa mơ mộng một ngày được đến quê hương cách mạng tháng mười. Trong giấc mơ đẹp đẽ ấy có áo khoác dạ, mũ nồi bằng nỉ đen, đi trong tuyết, và biết đâu may mắn nhìn thấy tổng bí thư hay chủ tịch xô viết tối cao, đứng từ xa vẫy vẫy.

Giấc mơ rồi cũng đến với bác, nhưng có lẽ hơi muộn. Quê hương cách mạng vẫn còn, mà thành trì cách mạng đã đi về nơi chín suối. Trong áo khoác dạ và mũ nồi của thập kỷ 70 thế kỷ trước, những lúc no lòng trong khách sạn ấm cúng, không biết bác cả có trỗi dậy ham muốn nhao ra cửa hàng bách hóa gần nhất xếp hàng, biết đâu mua được nồi áp suất, bàn là. Và biết đâu cả thau nhôm to đùng để mang về rửa mặt.

2. Bức tường Berlin

Người ta vẫn cho rằng thời kỳ đỉnh cao của các học giả Vạn Hạnh trước 1975 cũng là thời kỳ các trào lưu tư tưởng mới mẻ nhất của Châu Âu được du nhập vào Sài Gòn (thủ đô Việt Nam Cộng Hòa) nhanh nhất.

Nhưng chắc không nhanh bằng sự du nhập làn sóng Cải Tổ, Đổi Mới Tư Duy và cả Sám Hối nữa từ Liên Xô và Đông Âu về Hà Nội (thủ đô Việt Nam).

Nhanh và còn rộng hơn. Đâu cũng nói về đổi mới tư duy, cải tổ.Ông bạn hàng xóm tên Tùng của tôi, lúc đó bọn tôi còn học cấp 2, còn bảo: “bọn BBC nó gọi là đổi mới suy tư mày ạ”.

Trước khi tường Béc Lanh (ở HN lúc đó nhiều người còn gọi thế) đổ, áo lông Đức rất là thời thượng. Sau đó thời thượng phải là (đồng) Đê Mác.

Bức tường Berlin sụp đổ là một sự kiện quá lớn lao và mới mẻ so với nhận thức, hiểu biết và tầm vóc của lãnh đạo Việt Nam lúc đó. Tôi đoán vậy. Nên các vị này thay vì làm vua thì phải tuân theo cái thuận của đất trời, của lẽ tự nhiên, mà hùa theo Đông Âu mà làm đổi mới, thì các vị làm ngược lại. Nói theo ngôn ngữ bây giờ thì lãnh đạo đứng trước cơ hội lịch sử ấy, lại không đủ tâm và đủ tầm, nên đã kệ mẹ nó chuyển biến lịch sử, đồng lòng đóng sập cửa lại. Hơn thế, còn quay đầu chui vào háng kẻ thù cũ mà họ coi: vừa là đồng chí vừa là anh em. Lãng tử hồi đầu chính ra phải là mấy vị lãnh đạo thời kỳ này mới đúng.

Đánh Mỹ, đánh Pháp, đánh Nhật thì được, mà làm bạn với họ thì không dám. Thế có hài không. Sau mấy chục năm, giờ rõ ràng các cựu thù Nhật, Đài Loan, Hàn, Mỹ, Pháp đều là các nước đối tác tốt nhất của Việt Nam. Thế mà vẫn chưa dám làm bạn.

Trong khi đó bức tường Berlin sụp đã được 25 năm. Cơ hội lớn nhất của Việt Nam sau Chiến Tranh đã mất. Thế giới gọi là ngày bức tường sụp, còn Việt Nam gọi là ngày Chị Dậu.

Chẳng qua chỉ tại chữ hèn
Tiền đồ chị Dậu mãi đen thế này.

***

Go West

Bốn năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, bài hát Go West của nhóm Pet Shop Boys (cover) lên hạng nhất ở Đức. Go West cũng làm nên một cơn sốt nho nhỏ ở Hà Nội nhờ danh tiếng của Pet Shop Boys ở thành phố này suốt nhiều năm với hai bài hát rất được ưa thích là It’s a sin và Rent.

Video clip của bài hát này, lúc đó ở VN chưa có MTV, đi về HN từ Đức thông qua đường băng video. Hình ảnh thần tự do hát backvocal và Lê Nin chỉ tay đi về thiên đường phương tây trong clip này thực sự gây ấn tượng.

Hình ảnh những thanh niên đồng phục cầm cờ đỏ leo bậc thang đến thiên đường, một diễu nhại Odessa Steps sequence nổi tiếng trong bộ phim tuyên truyền hạng nhất của nhà nước Xô Viết là Chiến hạm Potemkin, cũng rất ấn tượng. Hồi đó computer graphic là cái gì đó rất hiện đại. Clip này sau còn được đề cử grammy award cho hạng mục music video.

Lời bài hát khá dễ chịu:

“There where the air is free
we’ll be (We’ll be) what we want to be
Now if we make a stand
we’ll find (We’ll find) our promised land

(I know that) There are many ways
(To live there) In the sun or shade
(Together) We will find a place
(To settle) Where there’s so much space
(Without rush) And the pace back East
(The hustling) Rustling just to feed
(I know I’m) Ready to leave too
(So that’s what) We are gonna do”

3. Tính từ

Cấp ba, tôi học trong ký túc xá Mễ Trì của Đại học tổng hợp Hà Nội.

Đó là những năm cuối cùng của bao cấp và năm đầu tiên của cái mà về sau nay được gọi đổi mới.

Ký túc xá rất nghèo nàn, lạc hậu và bẩn thỉu. Bẩn nhất là nhà vệ sinh công cộng ở đầu hành lang mỗi tầng.

Các anh chị sinh viên thì vô tư, hay có các cuộc giao lưu sinh viên trường nọ với trường kia. Sinh viên đại học văn hóa qua chơi thì rất hay nói bậy.

Hồi đó có câu: “Nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất, còn trường văn hóa là thiếu văn hóa nhất”.

Nay thấy báo chí nói người đứng đầu thanh tra chính phủ về hưu xây nhà ở quê to vật, người đứng đầu nội chính bắt tham nhũng lại có tiền đi chữa bệnh tận Hoa Kỳ, bất chợt nghĩ đến cái câu “nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất”. Một câu lẽ ra chỉ đúng ở thời kỳ bao cấp, xã hội đóng cửa, sống bầy đàn với nhau.

Lại nhớ hồi còn bé hơn, còn học cấp hai, sống ở một khu tập thể. Trong khu đấy các hàng xóm là cán bộ nhà nước, rất là nghèo, đi xe đạp, xem TV đen trắng ở phòng công cộng của cơ quan. Nhưng họ rất trẻ trung và tếu táo. Họ hay chế giễu chính phủ là một loại triều đình, quan chức là hoàng tộc. Đứng đầu bộ giáo dục là Tôn Thất Học, bộ y tế là Tôn Thất Đức, bộ tài chính là Tôn Thất Thu, bộ nông nghiệp là Tôn Thất Bát, bộ lao động là Tôn Thất Nghiệp.

Nhìn vào các vấn đề y tế, kinh tế, giáo dục … bây giờ, lại nhớ đến các Tôn Thất đầy giễu cợt hồi xa xưa ấy.

Người ta ca ngợi thành tựu của cái gọi là đổi mới quá nhiều rồi. Tóm lại, cái việc undo những gì mà nhà nước làm sai, quay lại làm theo cách thế giới người ta đã làm từ lâu, thì được gọi là đổi mới, cứu nước cứu dân.

Nhưng chả có ai rút ra sai lầm của đổi mới.

Đọc tiếp

Từ chuyện Trại trở về chuyện Hồng Bàng

Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.

“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.

Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.

Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:

“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh

Lại thi thái-học chư-sinh,

Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.

Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ. Đọc tiếp

Chuyện thờ cúng

Gần đây mới đọc một bài của một bác đi tây cũng lâu, ở Châu Âu, dè bỉu việc thờ ông địa ở các cửa hàng của người Á Châu. Bỏ qua chuyện bỉ bai tín ngưỡng (rất là không tốt) thì việc ở ta có thời phá đền chùa miếu mạo, phá cả đàn Nam Giao, cũng xuất phát từ những não trạng vô thần, phủi cả tín ngưỡng dân gian như thờ cúng tổ tiên, thờ thổ công thổ địa (dù ngô nghê nhưng lương thiện, không mê tín, không dị đoan). Vô thần và triệt tiêu tín ngưỡng (của người khác) là mặt bên kia của thái độ độc tôn tư tưởng, ý thức hệ (của mình). Cho nên phái rất tránh các bác có suy nghĩ bài bác tín ngưỡng.

Nhân tiện tóm tắt mấy cái dưới đây để mọi người đỡ nhầm lẫn. Đây cũng chỉ là sơ lược, thực tế thì thờ cúng sẽ phức tạp hơn:

a)      Chùa thờ Phật Đọc tiếp