Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry  Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ  “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa  của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở VN và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu. Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của The Quiet American , và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American .

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên Nha văn khố trung ương Hà Nội. Sau đó kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế. Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội.  Năm 1945  ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu ” “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi – Hội Khai xuân ở Hà Nội”.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam,  và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian  ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Đọc tiếp

Từ chuyện Trại trở về chuyện Hồng Bàng

Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.

“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.

Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.

Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:

“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh

Lại thi thái-học chư-sinh,

Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.

Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ. Đọc tiếp

Tự do học tập

Gần đây ta nghe nói nhiều đến “tự do đại học”.

Nghe quen mà lạ.

Quen là vì bản chất của giáo dục là để khai mở trí óc, phóng khoáng tinh thần cho mỗi cá nhân. Dạy và học là một cái gì đó cứ như là lẽ tự nhiên, bởi thiên nhiên tạo ra con người khác với sinh vật khác ở chỗ nó biết dạy và biết học. Mà tự nhiên thì đương nhiên là tự do và cởi mở.

Lạ là vì cái lẽ tự nhiên ấy chỉ có được ở một xã hội dân sự, là nơi mà chính trị phải dừng bước trước ngưỡng cửa học đường, bởi xã hội dân sự chưa từng và sẽ không chấp nhận chính trị can thiệp vào việc dạy và học. Đương nhiên, khi đã quá quen với một xã hội mà ở đó ruling class sử dụng giáo dục chỉ để đào tạo ra những cá nhân phục vụ và bảo vệ chế độ, thay vì để phụng sự xã hội và xây dựng tổ quốc, thì tự do học tập là cái gì đó quá ư xa lạ.

Đọc tiếp

Chính luận vắn

Để nước Việt hùng cường phải làm được hai việc.

Một là Chính-phủ nhỏ và Quân-đội mạnh

Hai là Dân-chúng tự bảo ban nhau học tập lao động trong một Xã-hội cởi mở khoan dung.

Chính phủ hiện ôm đồm quá nhiều, bộ máy cồng kềnh, chi phí lớn, hiệu quả thấp. Các tập đoàn nhà nước phải bán cho tư bản nước ngoài. Điều kiện duy nhất là họ phải đến từ các nước không có chung biên giới với nước Việt. Ưu tiên Nhật, Mỹ, Châu Âu.  Ngành dịch vụ bán trước, hạ tầng bán sau. Tài nguyên không được bán. Đọc tiếp

Triết học của rởm rít

Đại ca Aristotle là một tay tổ. Có lần đại ca bảo: cái đếch gì sinh ra ở cõi trần thì đều sinh ra vì mục đích nào đó. Ví dụ con người sinh ra (dưới cõi trần này) là để sống hạnh phúc. Mở ngoặc: cõi trần cũng là khái niệm mà Aristotle là người đầu tiên đặt ra.

Dưới đây là câu chuyện triết học ở cõi trần có tên Vina.

Cái triết lý nói trên của Aristotle được ứng dụng khắp nơi, ví như: cái gì xảy ra thì cũng phải có nguyên do.

Kiểu như anh Nhân đi học ở bển về, lên đến phó thủ, thì nguyên do của việc này là có rất nhiều gà ở Bắc Giang cần gắn chip mà chưa có ai đề xuất, nên cần có anh Nhân. Anh Nhân cần đi học cũng như gà đi bộ cần gắn chip vậy. Aristotle hẳn rất hài lòng.

Xã hội nào cũng có sự chia rẽ, bởi loài người sinh ra là để sống cô độc, càng văn minh thì con người lại càng suy thoái đạo đức (bộ phận không nhỏ), họ căm ghét nhau, xung đột quyền lợi, và tất nhiên là chia phe ném đá nhau. Cái này là do thiên tài Khai sáng Jean Jacques Rousseau viết ra.
Đọc tiếp

GoRin No Sho

Lời giới thiệu Ngũ Luân Thư

Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến cực kỳ khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15 tháng thứ 9 niên hiệu Keichō (Khánh Trường) thứ 5 (ngày 21 tháng 10 năm 1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi Seikigahara là “tử địa” vì trong trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết. Sekigahara cũng được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.

Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi (Cung Bản Vũ Tàng), bước vào trận chiến Seikigahara với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, là phe rốt cuộc đã thua trận chiến này. Kiếm khách trẻ và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến. Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát. Sau đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Musashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Niten Ichi Ryū (Nhị Thiên Nhất Lưu). Sau này ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).

Người ta vẫn nói: để hiểu được một người Nhật đi ra thế giới bên ngoài để kinh doanh thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh Nhật bước chân vào tử địa Sekigahara.

Để hiểu được việc các quan chức chính phủ hoặc doanh nghiệp Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và tướng quân của mình bị ô nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sĩ đạo.

Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hàng ngày thế nào, các tập đoàn Nhật lập chiến lược kinh doanh ra sao, các chính trị gia Nhật ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ Luân Thư) của Kiếm thánh Miyamoto Musashi.

Đọc tiếp

Sound of Silence

la-pagode-saigonCái milk-bar mà Phượng của Fowler thường ngồi vào cuối sáng, tôi luôn nghĩ rằng nó phải nằm đâu đó quanh số nhà trên đường Catinat mà sau này thành nhà in sách nổi tiếng Albert Portail chuyển đến. Nhà sách của Portail, chuyển qua đến mấy đời chủ, gốc gác xưa cũ là của ông Claude từ năm 1905, nhà in sách Claude et Cie. Nhà sách Portail ấy sau này, cỡ năm 1955, đổi tên thành Xuân Thu mà bà chủ của nó, cũng như của cái rạp hát Eden, được cho là  đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Graham Greene đến Sài Gòn, hay đúng hơn là Sài Gòn trong The Quiet American của ông, đã không có cái nhà sách ấy.

Cái Pavilion, chéo qua bên kia đường với cái milk-bar,  mà Fowler ghé qua uống bia lạnh và để tránh Phượng, được Green mô tả là một “coffee centre” cho phụ nữ Châu Âu và Mỹ. Ở đó Fowler chứng kiến vụ đánh bom. Cái Pavilion này tôi tin chắc chính là quán cà phê Terrace dành cho người nước ngoài của khách sạn Continental. Đây là quán cà phê sang đầu tiên ở Catinat, sau là Tự Do, và ngày nay là Đồng Khởi.

Không thấy nhắc đến  Givral. Có lẽ vào cái thời mà Việt Minh chưa về Hà Nội và Sài Gòn vẫn là đô thị hải ngoại của nước Pháp, cái chỗ mà sau này mở Givral vẫn là tiệm thuốc tây Solirène. Givral là quán cà phê thứ hai ở Caninat, dành cho khách Việt thượng lưu, và có lẽ là quán đầu tiên sang trọng dành cho người Việt.

Đọc tiếp

Great Gatsby 3D và những thứ khác

Great Gatsby 3D

Biết nói gì về bộ phim này khi nhân vật chính đã chết y như trong truyện và còn nhân vật phụ hóa ra không được rõ nét.

Lẽ ra trước khi nói về bộ phim ta cần viết dăm điều (thuổng của tây) về cuốn tiểu thuyết. Phải thuổng của tây vì tiểu tuyết Great Gatsby dễ hiểu nhưng có những chỗ lại khá mù mờ. Cho đến bây giờ giới phê bình thượng thặng của tây vẫn còn thắc mắc tại sao nhân vật Nick Carraway (narrator) lại hâm mộ Jay Gatsby đến thế. Thậm chí họ còn hỏi nhau, cho đến tận bây giờ, là tại sao và nghĩa gì cái chữ Great ở trong cái tên Great Gatsby ấy.

Đọc tiếp

Tự do như cánh bướm

(Bài này viết theo đặt bài của Elle VN)

Tôi vẫn nhớ hồi còn là thiếu niên các bạn gái ngồi trong lớp giữa giờ nghỉ tiết hay phàn nàn chuyện làm việc nhà. Chuyện thì khác nhau nhưng về cơ bản nội dung rất giống nhau: “Tao đang định quét nhà thì mẹ tao sai tao quét nhà, thế là tao không muốn quét nhà nữa”.

Lúc tôi lớn hơn chút, vừa lúc Việt Nam bắt đầu mở cửa, những cô gái nước ngoài mặc áo khoác, vừa hóng gió lạnh vừa uống bia chai và nói: Việt Nam thật là một xã hội tự do hậu hiện đại, tao có thể đi qua đường bất cứ chỗ nào, hút thuốc bất cứ đâu và ai cũng có thể vứt rác hay phun nước miếng mỗi khi họ thích.
Đọc tiếp

Qui Củ

Phan Văn Hùm, một lãnh tụ đệ tứ ở miền nam, trong trước tác có tên “Vương Dương Minh – Thân thế và Học Thuyết”, có giải thích Qui Củ như sau. Qui: đồ vẽ hình tròn (compas). Củ: đồ để vẽ góc vuông (équerre).

Com-pa, thước kẻ, ê-ke, thì quá là quen thuộc.

Cái chú thích “quy củ” này là chú thích do đoạn văn sau của Vương Dương Minh (viết năm 152x gì đó):

“Lương tri như quy củ. Hình tròn hình vuông số nó vô cùng, không thể biết trước hết. Duy lấy qui củ mà đều vẽ ra được tất cả, chẳng hạn ở một cái nào. Những tiết mục thời biến cũng vô cùng số, không thể biết trước hết. Duy nhờ lương tri mà ứng biến, cũng như qui củ ứng biến những hình tròn vuông”.

Phan Văn Hùm xuất thân nông dân miền nam, nhưng chắc là học giỏi, học đến cao đẳng ở HN. Sau chống Pháp bị Pháp bắt, giam ở Khám Lớn. Rồi đi Pháp du học, lấy cử nhân và thạc sĩ triết ở Sorbonne.

Cuốn “Vương Dương Minh – Thân thế và Sự nghiệp” của Phan Văn Hùm do Tân Việt xuất bản ở Hà Nội năm 1944. Hai năm sau thì ông chết. Bị giết rất bí ẩn (có thuyết nói ông bị Việt Minh ám sát). Nhà Tân Việt này có số sát học giả. Cùng năm 1944 này, họ xuất bản cuốn “Sử ký Tư Mã Thiên” của Nhượng Tống, một trí thức thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Năm 1949 thì Nhượng Tống bị giết (cũng được cho là công an mật của Việt Minh giết).

Phan Văn Hùm dùng kiến thức triết phương tây của mình để nhìn vào học thuyết của Vương Dương Minh, đâm rất thú vị. Đọc tiếp