Category Archives: đạo

Qui Củ

Phan Văn Hùm, một lãnh tụ đệ tứ ở miền nam, trong trước tác có tên “Vương Dương Minh – Thân thế và Học Thuyết”, có giải thích Qui Củ như sau. Qui: đồ vẽ hình tròn (compas). Củ: đồ để vẽ góc vuông (équerre).

Com-pa, thước kẻ, ê-ke, thì quá là quen thuộc.

Cái chú thích “quy củ” này là chú thích do đoạn văn sau của Vương Dương Minh (viết năm 152x gì đó):

“Lương tri như quy củ. Hình tròn hình vuông số nó vô cùng, không thể biết trước hết. Duy lấy qui củ mà đều vẽ ra được tất cả, chẳng hạn ở một cái nào. Những tiết mục thời biến cũng vô cùng số, không thể biết trước hết. Duy nhờ lương tri mà ứng biến, cũng như qui củ ứng biến những hình tròn vuông”.

Phan Văn Hùm xuất thân nông dân miền nam, nhưng chắc là học giỏi, học đến cao đẳng ở HN. Sau chống Pháp bị Pháp bắt, giam ở Khám Lớn. Rồi đi Pháp du học, lấy cử nhân và thạc sĩ triết ở Sorbonne.

Cuốn “Vương Dương Minh – Thân thế và Sự nghiệp” của Phan Văn Hùm do Tân Việt xuất bản ở Hà Nội năm 1944. Hai năm sau thì ông chết. Bị giết rất bí ẩn (có thuyết nói ông bị Việt Minh ám sát). Nhà Tân Việt này có số sát học giả. Cùng năm 1944 này, họ xuất bản cuốn “Sử ký Tư Mã Thiên” của Nhượng Tống, một trí thức thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Năm 1949 thì Nhượng Tống bị giết (cũng được cho là công an mật của Việt Minh giết).

Phan Văn Hùm dùng kiến thức triết phương tây của mình để nhìn vào học thuyết của Vương Dương Minh, đâm rất thú vị. Đọc tiếp

Khắc dấu mạn thuyền

Năm nay Tết Hà Nội rét kéo dài cả chục ngày. Rét căm căm, trời hơi u ám nhưng trong và khô. Một thời tiết hoàn hảo cho những ngày Tết ngoại trừ việc nó kéo dài hơi quá.

Nhưng chỉ hơn một giờ đồng hồ bay về phương nam, là một thời tiết nắng chói chang và khô ráo. Những người Bắc ở Sài Gòn nói ở đây bao lâu rồi mà không thể nào thấy cái Tết ở SG có hương vị Tết. Ấy là vì thiếu cái rét, cái mưa xuân, thiếu cả cái u ám của những ngày cuối đông lạnh lẽo.

Gần 100 năm trước có nhà thơ ngậm ngùi khi Hà Nội phố vắng dần những ông đồ già “bày giấy Tàu mực đỏ, bên phố đông người qua”. Mấy năm gần đây những ông đồ thời internet ngồi bên Văn Miếu, vừa tra từ điển vừa viết chữ thư pháp. Người đi xin chữ đông nghịt, từ sáng đến đêm.

Ngồi cầm cái quạt giấy quạt cho khô chữ vừa xin được, trên vỉa vè, vào sáng xuân gió lạnh và rét căm căm có vẻ như là một thú chơi xuân mới của người Hà Nội. Giống một tiếng vọng nhỏ từ quá khứ an lành dẫu chưa quá xa xôi về hiện tại vốn bề bộn với vô số giá trị mới mà phần nhiều đều không mấy gần gũi với người dân lao động.

Đọc tiếp

Thứ tư Lễ Tro

Mùng 4 Tết lại đến nơi xưa kia là Tháp Báo Thiên. Nhìn cái miệng giếng đá cổ của Tháp Báo Thiên, một trong bốn An Nam Tứ Đại Khí, nằm chơ vơ trước cây thánh giá, miệng giếng đầy vết chân nến, trong lòng nhiều cảm xúc khó tả. Không hiểu những giáo dân Hà Thành, lúc thắp nên trên miệng giếng, họ có cảm xúc gì, hay chỉ là thắp nến mà thôi. Phía bên kia hàng rào sắt là Đại Chủng Viện Hà Nội lặng lẽ và an bình trong tiết xuân rét ngọt.

***

Hôm trước đã ghé qua Nhà Thờ xem lịch, thấy bảng tin toàn đưa ảnh giáo dân máu me. Thấy rất khó chịu. Tại sao đến giờ này họ vẫn thích “kích động” như vậy. Và kích động như vậy thì kích động được ai và gây khó chịu cho ai. Giống như mấy năm trước vào bệnh viện Đống Đa thăm bà bác ruột nằm hấp hối, phải chịu đựng hàng tiếng đồng hồ tiếng loa tuyên truyền rất thô và bạo lực từ nhà thờ Thái Hà. Rồi chứng kiến giáo dân, toàn phụ nữ miền quê và trẻ em, nheo nhóc trong mưa, đi tụ vạ mà đúng giờ như công nhân xí nghiệp. Các linh mục Hà Nội có lẽ không bao giờ hiểu cái câu “Công giáo trong lòng dân tộc” thực sự có ý nghĩa gì. Càng cực đoan, càng thô bạo, họ lại càng xa dân tộc, ít nhất là xa những người đã có một cuộc sống bình thường trong xã hội, tự họ chuốc lấy sự kỳ thị cho chính mình. Biết rằng thô bạo là cái đáp trả thô bạo, nhưng Chúa hình như có dạy thế đâu.

Chúa cho phép giáo dân nỗ lực làm những gì mà họ muốn đạt được trong đời, bất chấp các quy tắc nếu cần, vì kết cục chỉ có Chúa mới là người phán xét. Triết lý này đã đưa phương tây phát triển vượt trội so với phương đông. Ngay cả Galilei trước Giáo Hội thì đầu hàng nhưng trước Chúa ông vẫn thấy trái đất vẫn quay. Vậy mà ngay ở Hà Nội, nhà thờ vẫn qua mặt chúa phán xét đồng bào của chính mình.

Đọc tiếp

Entry for September 30, 2008

Thực ra tôi có rất rất rất nhiều bạn thân là người Công Giáo. Nhưng họ đều là dân công giáo 54. Đặc điểm chung của những người bạn này đều là: cởi mở, hòa nhã, lễ phép, biết chơi một nhạc cụ gì đó, hầu hết là biết một hoặc hơn một ngoại ngữ (kể cả các bạn nghèo và lớn tuổi). Không có ai có tư tưởng chống cộng cực đoan (bằng chứng là chơi thân với 5xu, hehehe, bắc kỳ đỏ rực).

Nhưng thật thà mà nói thì tôi không cảm tình với công giáo bắc kỳ lắm. Tại “sơ yếu lí lịch” của công giáo bắc kỳ có nhiều yếu tố phục vụ quân đội viễn chinh Pháp và chính quyền thuộc địa. Ngay cả công giáo sau 1954 ở miền nam thì ông Ngô Đình Diệm cũng pro quá đáng, gây quá nhiều ức chế cho cả bên Phật giáo lẫn Lương giáo.

Tất nhiên nhìn vào sơ yếu lí lịch mà đánh giá thì không fair. Nhưng có ai trên đời này không đánh giá người khác bằng cách xem quá khứ của người ta không?

Quay lại sự vụ 42 Nhà Chung. Ít người chịu khó nhìn nhận vụ tranh chấp này theo chiều dọc của lịch sử. Nếu chịu khó nhìn theo chiều lịch sử thì khu đất Nhà Chung có một số điểm nhấn quan trọng. Nhưng trước hết nhắc lại lịch sử một chút:

+ Pháp chiếm nước ta. Trước hết chúng chiếm Nam Kỳ. Sau hòa ước 1862 ký với triều đình Huế thì ngòai các tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa của Pháp thì Pháp đạt được một mốc quan trọng trong hiệp ước này, đó là việc tự do truyền đạo thiên chúa và buôn bán trên toàn cõi Việt Nam (Nam Kỳ thuộc Pháp, Huế và Bắc Kỳ là của nhà Nguyễn).

+ Sau đó Pháp đánh Bắc Kỳ. Đánh hai lần. Lần một là Francis Garnier đánh thành Hà Nội, bắt Nguyễn Tri Phương (ông này sau tuyệt thực chết). Lần hai là Henri Riviere đánh Hà Nội, lần này Hoàng Diệu treo cổ tự sát.

+ Cả hai lần thì quân Pháp đều dùng thông ngôn là một cố đạo (linh mục) người Pháp có tên là Puginier (cha Phước??). Nhờ việc làm thông ngôn mà Puginier được Garnier cho mở nhà thờ nhỏ bằng gỗ chung với doanh trại tạm của quân đội Pháp trong khuôn viên chùa Báo Thiên. Sau đó nhà thờ nhỏ này được xây thành nhà thờ lớn Hà Nội như bây giờ.

+ Sau khi chiếm được Bắc Kỳ thì nước ta chia thành ba vùng rõ rệt: Thuộc Địa (Nam Kỳ), Bảo Hộ (Bắc Kỳ) và Đế Chế An Nam (Empire of Annam), chính là triều đình Huế.

Các điểm nhấn ở Nhà Trung như sau.

+ Trước khi Pháp đánh Hà Nội thì Hà Nội là cái làng khổng lồ. Sau khi Pháp chiếm và quy họach xây dựng mới hình thành đường phố này nọ. Trong đó có Phường Báo Thiên biến thành khu Nhà Chung.

+ Việc chiếm khu đất này được một việt gian là Tuần phủ Nguyễn Hữu Độ hợp pháp hóa bằng cách xui dân công giáo ở phường Báo Thiên viết đơn xin dọn dẹp chùa Báo Thiên đổ nát.

+ Khâm Sứ (delegate) Tòa Thánh phụ trách xứ Annam lúc đầu là một vị khâm sứ phụ trách Đông Dương. Văn phòng (Tòa) Khâm Sứ đặt ở thủ đô, tức là đặt ở Đế Chế An Nam, tức là Huế, cụ thể là ở Phủ Cam.

+ Đến năm 1945 nước Việt Nam độc lập, Hà Nội trở thành thủ đô. Do đó Tòa Khâm mới chuyển ra Hà Nội vào năm 1951.

+ Sau năm 1954 thì Vatican cương quyết không chấp nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khâm sứ chạy vào Nam. Để một ông khác lên làm Quyền Khâm Sứ.

+ Tất nhiên là chính phủ VNDCCH không thể chịu nổi cái kiểu trẻ con ấy, liền trục xuất nốt cái ông quyền khâm sứ kia và tịch biên tòa khâm sứ (1959)

Như vậy là trước khi Pháp đánh Hà Nội thì hoàn tòan không có khu Nhà Trung. Và sự hiện diện của Khâm Sứ Tòa Thánh ở Hà nội chỉ vỏn vẹn có mấy năm (1951-1959). Trong đó có thời gian sau 1954 thì vị khâm sứ này, như là một liên lạc viên của Tòa thánh Vatican ở Hà nội, luôn chối bỏ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngay cả giáo hoàng đương nhiệm, đợt vừa rồi đi Úc, lúc gặp Việt Kiều cũng quấn cờ vàng ba sọc chứ không quấn cờ đỏ sao vàng, tức là vẫn có ý chối bỏ nhà nước Việt nam hiện nay. Thật là hài hước hết sức. Ai dám nói là tôn giáo phi chính trị nữa nào.

Như vậy, xét về mặt sơ yếu lí lịch thì Ki Tô Giáo ở Việt Nam quá non trẻ so với Phật Giáo. Chưa kể là còn có quá nhiều phốt.

Có lẽ ngày xưa khi Phật Giáo du nhập vào Giao Chỉ cũng phải trải qua rất nhiều sự thanh lọc khắc nghiệt thì mới bản địa hóa được. Sự thanh lọc khắc nghiệt ấy đã biến Phật Giáo thành một tôn giáo bản địa không chỉ có vai trò tâm linh mà còn có vai trò truyền bá trí thức, lòng yêu nước, sức mạnh chống ngoại xâm (xem thêm cái Thiền Tông Việt Nam). Vua Lê ngày xưa sùng đạo Phật nhưng mà cần ra trận là cầm gươm đâm chém ra trò. Hết binh đao thì lại quay lại hiền lành tu tập. Đúng là “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Ki Tô Giáo thì ngoài sự thanh lọc thời nhà Nguyễn thì sau đó quá được ưu ái. Từ quân đội viễn chinh Pháp đến chính quyền Ngô Đình Diệm ưu ái hết lòng, muốn gì được nấy. Đời đúng là có lúc nọ lúc kia, cứ thấy lúc kia mà đòi cho lúc nọ thì khó mà có được cái sự công bằng.

Quá khứ luôn vọng về tương lại. Tương lai luôn có hình bóng quá khứ. Ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử của mình người ta luôn thấy sự thất bại của tất cả các phong trào dựa hơi ngoại bang. Chưa một lực lượng chính trị xã hội nào mượn thế và lực của ngoại bang mà thành công ở Việt Nam. Thất bại của mọi thế lực vọng ngoại phần lớn là do sự thanh lọc khá quyết liệt và tàn nhẫn của dân tộc Việt. Phật Giáo, với vai trò cả tôn giáo lẫn triết thuyết, đã vượt qua sự thanh lọc ấy chính là nhờ vào sự cởi mở và không đố kị của mình.

Ngoài việc sớm du nhập vào Việt Nam và đồng lòng với dân tộc suốt chiều dài lịch sử, một trong những lý do mà Phật Giáo được người Việt chấp nhận đó là vì tôn giáo này rất phi tập trung và không sùng bái bất cứ một cá nhân nào. Không những thế, ngoài Thích Ca và rất nhiều vị Bồ Tát, Phật Giáo khi vào VN còn ‘nhận thêm’ kha khá nhiều vị thần bản địa (Mây Mưa Sấm Chớp) và các vị thần có tính dị đoan địa phương (saman giáo) như đức ông này bà chúa kia. Cũng có thể là ở đây có side-effect là người Việt sẽ dị ứng với các tôn giáo hoặc chủ nghĩa nào đó có tính sùng bái một cá nhân phi thường, đặc biệt là dị ứng với bất cứ tôn giáo hoặc chủ nghĩa không những không chịu bản địa hóa mà lại còn thanh lọc đồng bào mình. Lịch sử phật giáo VN cận đại cho thấy chính lực lượng Phật Giáo là lực lượng chống ngoại xâm (cả văn hóa và quân sự) và chống độc tài bền bỉ và mạnh mẽ nhất. Chỉ có khác xưa một chút là súng gươm vứt bỏ thì không hiền như xưa nữa mà chuyển qua ăn chơi tham nhũng bợ đít chính quyền và bọn trọc phú hehehehe. Thế nên sư bây giờ mới có khái niệmlà sư tham nhũng với sư chạy chức. Sư trụ trì các chùa bây giờ chả khác gì đi làm giám đốc cơ quan nhà nước, hehehe. Đất nước cứ thế, bão lụt thiên tai nó mới nhiều.

Từ Linda Lê Đến Triết Vật Phật

Triết Vật Phật tức là triết học vật lý phật giáo.

Lý do là số mới nhất của World Literature Today có giới thịêu 2 gương mặt tác giả nữ người Việt tên là Linda Lê với Lê Phạm Lê. Chả hiểu hai bà này thế nào nên mới lọ mọ google, lăng quăng một lúc đang từ nữ văn nhân việt kiều lại vớ được mấy website toàn triết với phật. Mới ngồi dùng google để làm một cái desk research về các sách dịch liên quan đến triết học. Kết quả bất ngờ lắm. Bất ngờ ở chỗ là hóa ra chả có bất ngờ gì về sách triết được dịch ở VN.

Đại khái là sách dịch phần nhiều là trước năm 75. Trong Nam dịch rất nhiều và đa dạng. Ngoài Bắc cũng nhiều nhưng đơn dạng.

Sau đó thấy ít hẳn. Gần đây lại thấy xuất hiện thêm nhiều cuốn mới được dịch.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là, toàn dịch những cái cổ lỗ sỹ và tung hô là nền tảng với căn bản này nọ.

Trong khi đó, rất nhiều sách triết hiện đại, rất dễ đọc, dễ tiếp cận, có thiên hướng xã hội học nhiều hơn, lại không được dịch. Nhất là những cuốn sách do những triết gia có xuất thân là dân vật lý hoặc dân toán viết bằng tiếng Anh.

Kể từ khi Thuyết Tương Đối của Einstein ra đời (1905 và 1915 ) và đặc biệt là sau khi Cơ học lượng tử của Bohr, Heisenberg, Schordinger ra đời (1925) thì thế giới quan về tự nhiên và vũ trụ bị thay đổi dã man. Dẫn đến các vấn đề cơ bản nhất của triết học cũng bị thay đổi mãnh liệt. Nói nôm na là cái món Ontology (bản thể học) và Metaphysic (Siêu thể, siêu hình) là hai món đặt câu hỏi nhiều nhất về sự tồn tại của vật chất, của vũ trụ và của tinh thần cũng bị thay đổi mãnh liệt. Nhưng mà chả thấy cuốn sách quái nào được dịch.

Thuyết tương đối Einstein ra đời cho người ta thấy một thế giới tự nhiên khác hẳn ngày xưa, khi mà Thời Gian đã tham gia vào hệ quy chiếu Không Gian. Nó cũng cho thấy một điểm rất quan trọng nữa là vật chất tự nó tác động đến không gian xung quanh nó. Nó cũng cho thấy sự chuyển động làm thay đổi sự quan sát về cả không gian lẫn thời gian. Nó cho thấy sự biến đổi phi tuyến của vật chất trong vũ trụ. Nó cho thấy chính vũ trụ cũng biến đổi không ngừng nghỉ. Tóm lại là một vũ trụ quan hoàn toàn mới lạ và thú vị.

Cơ học lượng tử lại cho thấy tự nhiên vận hành không Tất Định mà là Bất Định, cái gì cũng có xác suất cả. Nó cũng cho thấy có cái gọi là nguyên lý bất định (Heisenberg) của tự nhiên. Ở đó trí tuê con người chỉ có thể xác định cái này (hoặc vận tốc hoặc vị trí) của vật chất còn thì sẽ phải mù tịt cái kia. Nôm na là tự nhiên ở quá xa tầm trí tuệ của con người. Rồi sau đó là lý thuyết của John Bell (bất đẳng thức Bell) ra đời năm 1964 và được kiểm chứng năm 1972 bằng thực nghiệm đã cho thấy tính chất phi cục bộ (non-locality) của tự nhiên. Tính phi cục bộ là một cái vượt quá khả năng trí tuệ của con người khi nó cho thấy vật chất ảnh hưởng với nhau tức thời bất chấp khoảng cách mà có vẻ như không cần signaling cho nhau qué gì cả. Riêng quả này thì thật là siêu nhiên, chả ai hiểu được tại sao.

Mặc dù Einstein vẫn cay cú cho rằng ông rất bực mình khi mấy cái chuyện xác suất và phi cục bộ lại tồn tại trong tư nhiên. Ông rất ấm ức phát biểu là không tin rằng God play dice trong vũ trụ. Nhưng ông vẫn cho rằng God, nếu có 1 vị God như vậy, chính là sự luân chuyển của vũ trụ. Và ông cũng cho rằng Phật Giáo cũng rất gần với lý thuyết vật lý hiện đại. Có lẽ là nhờ tính Vô Thường (giống Bất Định), Duyên Khởi (cái nọ tác động đến cái kia) và có thể cả Tính Không nữa.

Do vật lý hiện đại của thế kỷ trước có quá nhiều cái mới lạ cho nên những câu hỏi cơ bản của onthology, đặc biệt là câu hỏi liên quan đến vật chất – tinh thần, trở nên sáng tỏ hơn nhiều. Nhiều vấn đề triết học và tôn giáo trước đó đã phát triển rất cao tự nhiên thành sai toét, nhiều cái giản dị hơn kiểu như Phiếm thần của Spinoza và Lão Tử tự nhiên trở nên có lý (híhí, thật là quái dị). Đáng tiếc là các tác phẩm triết học với cơ sở lý luận là vật lý hiện đại của các tác giả hiện đại lại không được khai thác ở Việt Nam.

Dưới đây là một vài tác giả và tác phẩm có thể tự tìm đọc trên internet. Các tác phẩm này đều là tiếng Anh giản dị nên đọc cũng dễ hiểu (đoán vậy vì chủ yếu là search ra các trích đọan dài).

1. Alfred North Whitehead (1861 – 1947).

Ông này là nhà toán học thuộc loại xuất sắc của Anh. Ông cũng rất giỏi về vật lý lý thuyết. Chính ông cũng có thuyết tương đối của ông để đối chọi với Einstein (nhưng thất bại). Ông quan tâm nhiều đến triết học cổ điển và siêu hình học. Khi thế giới vật lý cổ điển Newton sụp đổ thì ông có nhiều suy nghĩ sâu sắc về triết học. Đến năm 63 tuổi thì đại học Havard mời ông qua dạy Triết học.

Cuốn sách Process and Reality (1929) của ông coi như là xuất phát điểm của trường phái triết học chuyển biến (process philosophy hoặc onthology of becoming) kiểu Whitehead. (Process ở đây dịch là chuyển biến vì nó sử dụng process (như là một quá trình changing liên tục có động lực nội tại) để hình thành và tạo nên quan sát và cảm nhận và cuối cùng dẫn đến tâm thức (thought): từ nhận thức đơn giản đến trạng thái tinh cần cao cấp. Trong vũ trụ của Whitehead quả thực có God, ông God này vận hành thế giới bằng cách tung ra các khả năng và cơ hội mà thế giới khách quan có thể nhận hoặc từ chối.

Các ý tưởng trong Proces philosophy của Whitehead đã làm thay đổi khá nhiều bản thể học (onthology). Từ đây có nhiều trường phái hẹp hơn với các ứng dụng phần nhiều liên quan đến Y, Tâm Lý, Thần Kinh, Toán.

2. David Joseph Bohm (1917-1992).

Ông này là nhà vật lý lượng tử người Mỹ gốc Do Thái – Hung. Ông tham gia dự án Manhattan là cái dự án làm bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ. Ông này có nhiều bạn bè là cộng sản nên bị cấm đoán rất nhiều, sau phải dạt vòm qua Brazil mặc dù ông được chính Eistein đề nghị giữ lại Princeton làm trợ lý riêng. Trước đó Bohm đã làm ở Princeton và thân cận với Einstein rồi, nhưng sau bị chính quyền chống cộng McCarthy nó đuổi rát quá, trường không ký hợp đồng nữa. Ngay cả trong dự án Manhattan ông cũng không được tham gia đầy đủ vì bị ngăn chặn. Sau này người ta mới công bố đóng góp lý thuyết của ông vào phần làm giàu uranium cho một trong hai quả bom ném xuống Nhật.

Bohm là người đưa ra rất nhiều công trình lớn trong vật lý lượng tử. Trong đó có lý thuyết tất định biến ẩn phi cục bộ (hay còn gọi là Giải thích Bohm). Lý thuyết này và nghịch lý EPR (Einstein Podolsky Rosen) là tiền đề để John Bell đưa ra bất đẳng thức Bell nổi tiếng, gần như hoàn thiện nốt cơ học lượng tử.

Bohm chơi thân với triết gia phật giáo Krishnamurti và nhiều gần gặp Dalai Latma. Kể từ khi gặp Krishnamurti, Bohm viết và giảng nhiều về cuộc sống, triết học và các vấn để xã hội. Các ý tưởng từ các cuốn sách của ông người ta đã đi xa hơn trong nhiều ngành khoa học con người, đặc biệt là thần kinh học. Nhiều nhà khoa học và triết học đã sử dụng các ý tưởng của Whitehead và Bohm để giải thích một trong những câu hỏi quan trọng nhất của triết học về quan hệ giữa vật chất và tinh thần. Cũng giống như Einstein, Bohm có nhiều ý tưởng liên kết với Phật Giáo. Nhiều ý tưởng trong cuốn Wholeness and the Implicate Order của ông được sử dụng trong tập thiền. Cuốn sách này hình như có vũ trụ quan giống với vũ trụ quan của Phật Giáo

Ông có mấy cuốn sách sau, có cả viết chung với Krishnamurti: “Wholeness and the Implicate Order” (1980) và “Science, Order and Creativity” (1987).

Vài link tham khảo: Bohm on DiaglogPhỏng vấn Bohm.

Link có bài Nguyễn Tường Bách giải thích về Implicate Order của Bohm và liên hệ với phật giáo ở đây: Từ David Bohm đến kinh Lăng Nghiêm.

Lê Mạnh Thát

Nhân việc báo Thanh Niên đăng loạt bài về các công trình của giáo sư Lê Mạnh Thát với những kết luận về lịch sử Việt nam khác xa với sử mà chúng ta được học. Nhiều forum có topic về sự việc này.

Ở tathy cũng có, tất nhiên thắc mắc là nhiều. Nhân có bạn nghi ngờ về năng lực của Lê Mạnh Thát, liền viết 1 bài ngắn gọn giới thiệu về ông này.

Trích dẫn:
xaxoi viết:
Mình thật chứ đọc đến đoạn
“Ông không chỉ là một thiền sư, là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ(Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ…),….” mình là mình thắc mắc cực nhé. Khiếp, muốn nói lên sự thật lịch sử thì những cái thuộc về hiện tại cũng phải có tính thuyết phục trước hẵng chứ nhỉ.

Bạn này quả thật không biết ông Thát là ai nên mới nói vậy. Tiếng Anh, Đức, Pháp thì chắc chắn là ông ấy biết rồi, vì ông ấy học tiến sỹ ở Mỹ, và lại dịch nhiều sách triết và văn học từ tiếng Pháp, Đức qua tiếng Việt. Ông ấy cũng dịch nhiều kinh Phật từ tiếng Phạn, Tây Tạng, Hán cổ ra tiếng Việt rồi. Tiếng Ấn Độ thì có thể là cũng biết. Tiếng Do Thái, Hy Lạp, Ả rập thì cũng có thể lắm chứ.

Ông Lê Mạnh Thát (thượng tọa Thích Trí Siêu) là học giả uyên bác nhất của giới trí thức phật giáo Việt nam. Riêng về nghiên cứu thì có thể được gọi là sử gia xuất sắc nhất của VN, vượt xa các ông sử gia hiện đại khác (cho dù còn sống hay mới qua đời).

Cuộc đời của ông ấy cũng chìm nổi rất ác. Nếu ai còn nhớ các số báo Công An Tp Hồ Chí Minh giữa những năm 1980 thì sẽ thấy có các bài báo nói về vụ Già Lam. Trong vụ đó thượng tọa Trí Siêu và thượng tọa Tuệ Sỹ bị kết án tử hình. Còn ai để ý nữa thì sẽ thấy sau đó khoảng 10 năm thì phải, chủ tịch nước ân xá cho hai vị này. Một trong hai vị, thượng tọa Thích Trí Siêu, trở thành học giả Lê Mạnh Thát.

Còn nếu ai để ý nữa, thì trước 1974, ông Lê Mạnh Thát (Thích Trí Siêu) là một trong những giảng viên, dịch giả,nhà nghiên cứu triết học, phật giáo … hàng đầu của đại học Vạn Hạnh. Về bằng cấp thì Lê Mạnh Thát cũng có nhiều, do đi du học ở bển mà có.

Các công trình của Lê Mạnh Thát đa dạng và đồ sộ. Nói chung là đọc phát mệt. Trong đó có lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử của ông Thát rất khoa học, bản thân ông ấy cũng rất thông minh và uyên bác. Ông ấy nghiên cứu lịch sử dựa vào các văn bản cổ (tiếng Phạn, tiếng Hán cổ). Cũng có tham chiếu qua khảo cổ học và nhân chủng học (là 2 ngành ông ấy có bằng tiến sỹ thì phải).

Các kết luận của ông ấy (nhất là về các điểm mờ trong lịch sử) nói chung là đáng tin cậy. Tuy nhiên giải thích của ông ấy, nhất là những cái phỏng đoán, thì có vẻ như đi hơi quá xa.

Nói vậy, nhưng hai phỏng đoán quan trọng nhất của ông Lê Mạnh Thát, là thời Hùng Vương đã có luật (Việt Luật) và có chữ viết (giống chữ Hán mà không phải chữ Hán) thì có thể tin được. Và lại rất muốn tin nữa.

Phục Dựng Tháp Báo Thiên

Mấy hôm trước Tết đọc báo thấy Hà nội có ý tưởng phục dựng lại tháp Báo Thiên, một trong An Nam Tứ Đại Khí. Tuy nhiên ngoài việc tiền bạc, thì vị trí dựng tháp nay không còn nữa (chỗ cũ hiện là nhà thờ lớn Hà nội) và kiến trúc ngọn tháp nguyên thủy ra sao thì không ai biết. Sử sách chép về ngọn tháp hoành tráng này rất sơ sài.

Mấy hôm Tết rảnh rỗi, ngồi ngâm cứu sách vở, cộng với trí tưởng bở phong phú, và kiến thức vụn vặt, tôi ngồi bốc phét đầu năm ra kiến trúc của tòa tháp này. Mỗi tội không biết vẽ, nên không làm sao vẽ ra được. Đành google lấy một cái ảnh hao hao về hình dáng để lên trên đây, còn thì dùng lời mô tả. Tòa tháp trong ảnh vốn là ở Nepal. Về kích thước hẳn là bé hơn tháp Báo Thiên rất nhiều. Nhưng về hình dáng bên ngoài thì khá là phù hợp. Điểm khác biệt lớn nhất là tỷ lệ ngọn tháp, gồm 13 mâm tròn đồng tâm xếp lên nhau thì có tỷ lệ tương đối so với phần phía dưới thì lớn hơn rất nhiều. Tầng trệt của tháp Báo Thiên xịn cũng lớn hơn, có 4 cửa quay ra bốn hướng, được sử dụng giống như tam bảo của một ngôi chùa kiểu cổ. Ngoài ra, tháp được xây trên một ngọn đồi cao (chắc cỡ núi Nùng) nên lại càng hùng vĩ. Thế cho nên bão và sét đánh gãy tháp tới mấy lần vào các năm 1258, 1322, 1406.

Về số mâm tròn (số tầng tháp) thì sử sách ghi không khớp nhau. Con số hay được nhắc đến là 12 hoặc 13 tầng. Tuy nhiên tôi cho rằng số 13 là số đúng. Nhưng do cái dù (ô) bằng đồng ở đáy của đỉnh tháp che đi mất 2 tầng, cho nên đứng ngoài mà đếm thì thành 12 (tính cả cái dù là 1 tầng). Trong cái ảnh ở trên, cái dù là phần bằng đồng nằm ngay dưới đáy của ngọn tháp. Ngọn tháp chính là cái hình Mặt Trăng – Mặt Trời – Kim Cương ở phía trên cùng.

Xây tháp có thể xây từ 3 đến 13 tầng, tùy công đức người xây. Tất nhiên vua Lý Thánh Tông, là phật tử của dòng thiền Thảo Đường, phía bắc đánh Tống, phía nam bình Chiêm, thì công đức chắc lớn, nên xây phải xây hết cỡ 13 tầng rồi. Tháp Báo Thiên, cùng với bia văn Sùng Thiện Diên Linh và hội đèn Quảng Chiếu (sử dụng cực nhiều rối cạn và rối nước) là điểm nhấn của Mật Tông lên tôn giáo của các vua nhà Lý.

Trước khi mô tả chi tiết, xin nhắc lại vài nét về tháp Báo Thiên xịn.

Tháp Báo Thiên (còn gọi là Tháp Đại Thắng Tư Thiên) là công trình kiến trúc hoành tráng đầu tiên của Thăng Long. Cũng đồng thời là kiến trúc Phật giáo lớn nhất của Hà nội trong suốt lịch sử ngàn năm của thủ đô. Tháp thuộc chùa Sùng Khánh Báo Thiên nên còn gọi là tháp Báo Thiên cho gọn.

Tháp Báo Thiên, xưa được vua thứ ba của nhà Lý là Lý Thánh Tông xây dựng năm 1057. Trước đó một năm vua cho xây chùa Báo Thiên.

Năm 1136, Nguyễn Minh Không về cung chữa bệnh cho Lý Thần Tông, đi thuyền trên Nhĩ Hà còn nhìn thấy tháp.

Năm 1414, quân Minh bị Lê Lợi vây trong thành, đã dỡ ngọn của Tháp, được đúc bằng đồng, để mang ra làm đạn, bắn nhau với Lê Lợi.

Năm 1791 khai quật khu tháp Báo Thiên, lấy gạch đá để đắp thành Thăng long.

Sau này Pháp chiếm Hà nội, xây nhà thờ lớn trên khu đất của tháp Báo Thiên ngày xưa.

Thế là toi hẳn một ngọn tháp hùng vĩ.

Bây giờ quay lại với kiến trúc ngọn tháp.

+ Nền, hẳn là nền đá, dùng làm móng, trên một ngọn đồi cao.

+ Tầng trệt của tháp. Có bốn mặt. Được xây bằng gạch, có bốn cổng vòm đá (tôrana) ở mỗi mặt. Kích thước mỗi mặt chắc phải cỡ thành Cửa Bắc (hiện vẫn còn). Các viên gạch đều khắc dòng chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo”. Mỗi cổng vòm có hai pho tượng Kim Cương. Kích thước mỗi pho Kim Cương chắc cỡ tượng ở chùa Thầy (cũng được xây tầm đấy, hiện vẫn còn). Ngoài ra còn nhiều tượng chim muông thú khác để decor tâm linh. Để tiếp cận 4 mặt của tầng trệt, phải đi qua ba bậc thềm đá lớn, tượng trưng cho Tam Bảo. Phía mái của tầng trệt, có thể được decor bằng gỗ lớn, giống Tam Bảo của chùa Thầy.

+ Trên nóc tầng trệt là một ngọn pyramid cụt, có bốn bậc, xây bằng gạch. Tượng trưng cho Tứ Vô Lượng.

+ Trên pyramid này là Bình Tịnh Thủy (Bumpa), tượng trưng cho bình chứa nước cam lồ theo phật giáo Mật Tông. Bình Tịnh Thủy trong cái ảnh của một chùa tháp Nepal phía trên có một cửa sổ tượng phật. Có thể tháp Báo Thiên xịn không có cửa sổ này. Bình Tịnh Thủy tượng trưng cho Thất Giác Chi hay còn gọi là Thất Bồ Đề Phần (Thất Giác Đạo). Tiếng Phạn là Satta Sambojjhanga).

+ Trên Bình Tịnh Thủy là chân đế bằng đá (harkima) của cái ô (dù). Ngọn ô (dù) này có cọc (pole) chạy xuyên suốt từ nóc của tầng trệt lên ngọn tháp. Chân đế bằng đá là hình bát giác, tượng trưng cho Bát Chánh Đạo.

+ Trên chân đá, lấy trục ô (cedar pole) làm tâm, là 13 mâm tròn bằng gạch đồng tâm, tượng trưng cho 13 powers của Đức Phật. Trong cái ảnh minh họa phía trên, tỷ lệ không phù hợp với tháp Báo Thiên xịn. Trong thực tế tỷ lệ của phần 13 tầng tháp này so với phần dưới, có lẽ tương đương với tỷ lệ của Cột Cờ Hà Nội so với phần đế (cột cờ hiện vẫn còn). Tầng thứ ba của tháp (là tầng tối thiểu khi xây tháp như đã nói ở trên) có khắc bốn chữ Thiên Tử Vạn Tuế. Cái này rất hay, vua Lý hồi đó cũng đã nhận béng mình là Thiên tử, mặc dù theo thiền phái Thảo Đường.

+ Hết tầng tháp thứ 13 (mâm tròn thứ 13) là một tán đồng, giống cái ô, phủ xuống che hai tầng tháp như đã nói ở trên. Tán đồng này tượng trưng cho Từ Bi (Karuna)

+ Trên cùng là ngọn tháp. Gồm mặt trăng lưỡi liềm, ôm lấy mặt trời, trên mặt trời là kim cương. Mặt trăng tượng trưng cho Bồ Đề Tâm (Bodhicitta). Mặt trời tượng trưng cho Trí Tuệ (Prajna). Kim cương (hoặc ngọc sáng) tượng trưng cho Giác Ngộ. Điều thú vị là ngọn tháp, vốn đúc bằng đồng nặng , có khắc chữ Đao Ly Thiên, có ý nói kinh đô Thăng Long nối liền với bầu trời, là trung tâm của nước Nam, nơi vua Nam trị vì như Thiên Tử. Vừa logic với chữ “Thiên Tử Vạn Tuế” ở tầng thứ 3 của tháp, vừa logic với câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Nó cũng cho thấy vua ngày xưa tuy sùng đạo Phật nhưng vẫn đề cao chủ nghĩa dân tộc.

Tổng chiều cao của cả tháp Báo Thiên chắc phải tới mấy chục mét (30 trượng). Nhìn từ xa, cái thời hồng hoang ấy, thì quả là hoành tráng thật. Nhất là phía trước tháp là hồ Tả Vọng (Hoàn Kiếm), sau là Hoàng Thành, đều không có công trình kiến trúc nào cao lớn cả.

Còn về vị trí phục dựng tháp Báo Thiên. Do Tòa Khâm Sứ có khi bị trả lại cho nhà thờ (miếng đất này đẹp thật, xưa là cái vũ trường Palace khá nổi tiếng) cho nên hơi bí chỗ.

Chỗ còn lại khả dĩ nhất chính là khu đất của vũ trường New Century, hiện đang ngừng hoạt động.

Sa Man Giáo

Sa Man Giáo (Shamanism)

Điều thú vị nhất là có vẻ như thuật ngữ Sa Man có nguồn gốc từ vùng Trung Á thuộc Liên Xô cũ. Đó là vùng đất lanh quanh Mãn Châu Lý, Mông Cỏ, Tây Tạng gì đó có ảnh hưởng nặng của các tín ngưỡng dân gian pha trộn với phật giáo cổ. Danh từ Shaman có được là do từ gốc được Châu Âu nhập khẩu qua nước Nga.

Shaman giáo nghe thì là lạ chứ nó là mẫu số chung văn hóa dân gian có ảnh hưởng nhiều yếu tố tâm linh. Ở Việt Nam mình nó chính là hầu đồng. Và cũng như khu vực chịu ảnh hưởng mật giáo từ thế kỷ 7, 8 như Tây Tạng, Mông Cổ, Phật giáo ở bắc Việt nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của Shaman giáo.

Sở dĩ tự nhiên nói đến cái này vì gần đây tự nhiên đi dự một buổi hầu đồng. Trước nghe nói nhiều rồi, cũng ngó qua loáng thoáng nhiều rồi, biết là nhiều nghệ nhân đã được nhà nước công nhận thay vì bị coi là mê tín dị đoan như trước. Tiếc là các vị được công nhận hoặc là đã khuất hoặc già quá. Còn đám hầu đồng bây giờ đa phần là thương mại hóa (đoán thế).

Để cho dễ hiểu, ai mà đã từng xem phim đọc truyện về dân da đỏ ở Mỹ (ví dụ phim the Missing) sẽ thấy dân da đỏ hay chơi bùa ngải rồi lên đồng gọi hồn gọi hiếc về chữa bệnh.

Nhân tiện, The Missing rất hay, có sự tham gia của hai ngôi sao Cate Blanchet và Tommy Lee Jones. Trong phim này Tommy đóng vai một người da trắng sống chung với dân da đỏ Apache ở biên giới Mexico. Vai diễn của Cate là một người mẹ kiên cường, truy lùng dân da đỏ để cứu con gái. Nhân tiện phát nữa, Cate có một vai quái thủ rất lạ lùng trong Bandits (đóng chung với Bruce Wiliis và Billy Bob Thorntorn).

Shaman giáo là sự kết hợp kỳ lạ giữa đời sống tâm linh và thiên nhiên. Các ông đồng bà cốt là những người làm cầu nối giữa hai thế giới này. Giới tính của họ bởi vậy cũng hơi bị ái nọ ái kia.

Để đi từ thế giới tự nhiên qua thế giới tâm linh thì các ông đồng bà cốt phải tự thôi miên mình để đạt ngưỡng hưng phấn đi mây về gió. Các công cụ hỗ trợ cho việc tự thôi miên này chính là nhạc (ở ta là bộ gõ, đàn nguyệt, hát, kể chuyện do cung văn chơi), khói (ở ta là hương, thuốc lá), trang phục (ở ta thì mỗi giá đồng thay một bộ quần áo, ngồi xem mà đến chóng mặt), múa. Điều kỳ lạ là nếu hầu đồng giỏi thì không chỉ ông đồng bà cốt get high mà đám đệ tử cũng thăng cả, không khí rất chi là phấn khích. Khi lên đồng thì ông đồng bà cốt đứng lên múa rất ác. Lúc thánh thăng xong thì tỏ ra mệt mỏi (hehe, tự thôi miên để get high, lúc xong không mệt mới là lạ).

Shaman giáo nói chung là hao hao giống nhau, được vận dụng vào các việc chữa bệnh (ở ta thì cái này dị đoan rõ, cái gì mà uống bát nước pha tàn hương mà bách bệnh tiêu tan), xin lộc thánh (tiền tài, con cái).

Các thầy Shaman xịn (ông đồng bà cốt xịn) thường là hiểu biết sâu sắc về văn hóa dân gian thông qua các câu truyện truyền thuyết về các vị thần linh và lịch sử tộc người của mình. Ở ta thì toàn các vị hoành tráng, trong đó có nhân vật có thật như Hưng Đạo Vương lẫn nhân vật huyền thọai như Bà Chúa Liễu.

Do Shaman giáo có lịch sử lâu đời. Nó là dòng chảy chung với văn hóa dân gian và là một dòng tín ngưỡng dễ bị lợi dụng. Ở các dân tộc không có ảnh hưởng của một tôn giáo khác thì Shaman có chỗ đứng mạnh mẽ hơn. Giống như ở người Da Đỏ chẳng hạn. Ở Việt Nam thì các dân tộc như Mường, Nùng, Dao hay các dân tộc ở Tây Nguyên đều có các ông như kiểu thầy mo hành lễ cho Shaman giáo.

Văn hóa đi kèm Shaman giáo có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa dân gian của mỗi dân tộc. Các trường ca Ê Đê hay các áng mo mường dài dằng dặc kể về lịch sử dân tộc là sản phẩm của văn hóa ca ngợi thần thánh tổ tiên của Shaman giáo. Ở bắc bộ nó phát triển hơn, thành âm nhạc đàng hoàng. Ngày xưa vào các ngày sóc vọng, các ông thủ từ thường tổ chức lễ tưởng nhớ các vị thần bảo trợ, trong đó có sử dụng cung văn để hát văn. Hát văn ngày xưathiên về hướng ca ngợi thánh thần và các anh hùng dân tộc. Mỗi giá văn kể chi tiết về một nhân vật nên nó cũng có giá trị của sử liệu. Nó cũng là một hình thức để người nay tỏ lòng biết ơn và nhớ đến người xưa.

Shaman giáo ở Việt Nam, tuy ngày càng bị thương mại hóa (dị đoan hóa) nhưng cũng vẫn là cái phải giữ gìn. Vì đi cùng với nó là văn hóa dân gian, là Thần Giáo của Việt nam (là một thứ đã hòa tan đủ các thứ đạo trên đời, từ đạo lão, phật giáo đến phong thủy, bùa chú trừ tà chữa bệnh, sấm ký).

Om Mani Padme Hum

om_mani_padme_hum-751948.jpg

1. Om Mani Padme Hum

Đây là câu thần chú phổ biến nhất trong phật giáo. Nhưng để hiểu nó không phải đơn giản. Vì nó quá đơn giản đi, nên khó có thể hiểu nó bằng một trí óc thông thường. Thay vào đó nên hiểu bằng một trực giác không cần phiên dịch.

Câu thần chú này thường được gọi là câu thần chú sáu vần. Sáu vần ứng với mong muốn và phương tiện chấm dứt sự luân hồi của sáu cõi. Toàn bộ câu thần chú là ước muốn và phương tiện để vượt hẳn qua kiếp luân hồi để đạt đến sự hư vô của vũ trụ.

Về bản chất ngữ nghĩa, Om và Hum là hai âm mở đầu và kết thúc của câu thần chú này. Nó chỉ có phần âm mà không có phần nghĩa. Om được phát âm trong tiếng Phạn (Sankrit) với nguyên âm A, bán nguyên âm U và phụ âm M. Nó thể hiện cho sự mở đầu của thân-khẩu-ý (body, speech, mind). Còn Hum thì là sự kết hợp tất cả làm một. Thành kim cương tỏa sáng trong im lặng. Đọc tiếp

Phật Đản

 Ai là nhà sư nổi tiếng nhất thế giới hiện nay (mà còn sống)? Ông số một chắc chắn là vị Latlai Latma thứ 14 của Tây Tạng hiện đang sống lưu vong ở nước ngoài. Người nổi tiếng thứ nhì là ai? Câu trả lời khá khó. Tuy nhiên có thể đấy chính là thầy Nhất Hạnh. Báo Time nói là Nhất Hạnh nổi tiếng chỉ sau đức Đại Lạt Ma thứ 14. Một cái ông gì là chủ tịch hội phật giáo Hoa Kỳ cũng nói là Phật Tử người Tây không ai không biết Thích Nhất Hạnh (bên Tây gọi là Zen Master Nhất Hạnh, bản thân cụ Nhất Hạnh hình như cũng thích được gọi là thầy Nhất Hạnh hoặc thiền sư Nhất Hạnh). Câu nói này nãy giờ google mãi không ra.

Cụ Nhất Hạnh tuy sự nghiệp hoằng pháp ở trời tây vô cùng rực rỡ nhưng thật đáng ngạc nhiên là danh tiếng của cụ ở trong nước rất xoàng (gần đây cụ về nhiều nên dân tình mới biết). Trong giới phật giáo thì các tăng kỳ cựu ngày xưa, đặc biệt là các cụ có thành tích chói lọi thời kỳ 1963 rất không mặn mà với cụ Nhất Hạnh. Việt Kiều cũng khá chia rẽ, người chê, người khen.

Tìm hiểu tiểu sử cụ Nhất Hạnh thì thấy phần nhiều nói về các họat động của cụ ở hải ngọai kể từ khi cụ lưu vong. Các tài liệu nói về thời kỳ 1963 tuy rất nhiều nhưng tuyệt nhiên không nhắc gì đến cụ Nhất Hạnh mấy. Tuy nhiên có vài điểm nhấn quan trọng như sau: Đọc tiếp