Trong vỏ hạt dẻ (tiếp và hết)

I. OSS Hoa Kỳ, quân Đồng Minh và múi giờ Hà Nội

Là con một gia đình dòng dõi ở Chicago, Albert Peter Dewey vào học đại học Yale, tốt nghiệp, đi làm phóng viên thường trú ở Paris cho Chicago Daily News và thực hiện các nhiệm vụ ngầm cho Rockefeller. Thế chiến 2 nổ ra, Dewey đăng lính và cuối cùng gia nhập OSS (cơ quan tiền thân của CIA). Đầu tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (15 tháng 8), Dewey được cử đến Sài Gòn, đứng đầu một toán OSS có 7 thành viên, để đại diện cho quyền lợi Hoa Kỳ. Ở thời điểm này Hoa Kỳ chưa có cơ quan ngoại giao trên đất Đông Dương thuộc Pháp.

Khoảng nửa năm trước khi nhóm OSS của Dewey đến Sài Gòn, quân Nhật bất ngờ đảo chính Pháp ở Đông Dương (tháng 3), bắt giữ tù binh (POW), trong đó hơn 200 người Mỹ. Khi Dewey tới Sài Gòn thì Thế chiến 2 đã kết thúc, Nhật đã đầu hàng quân Đồng Minh, ở Hà Nội Việt Minh đã cướp được chính quyền, và đang được phe Đồng Minh (Mỹ, Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch) yểm trợ vì có công chống Nhật. Đọc tiếp

Sound of Silence

la-pagode-saigonCái milk-bar mà Phượng của Fowler thường ngồi vào cuối sáng, tôi luôn nghĩ rằng nó phải nằm đâu đó quanh số nhà trên đường Catinat mà sau này thành nhà in sách nổi tiếng Albert Portail chuyển đến. Nhà sách của Portail, chuyển qua đến mấy đời chủ, gốc gác xưa cũ là của ông Claude từ năm 1905, nhà in sách Claude et Cie. Nhà sách Portail ấy sau này, cỡ năm 1955, đổi tên thành Xuân Thu mà bà chủ của nó, cũng như của cái rạp hát Eden, được cho là  đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Graham Greene đến Sài Gòn, hay đúng hơn là Sài Gòn trong The Quiet American của ông, đã không có cái nhà sách ấy.

Cái Pavilion, chéo qua bên kia đường với cái milk-bar,  mà Fowler ghé qua uống bia lạnh và để tránh Phượng, được Green mô tả là một “coffee centre” cho phụ nữ Châu Âu và Mỹ. Ở đó Fowler chứng kiến vụ đánh bom. Cái Pavilion này tôi tin chắc chính là quán cà phê Terrace dành cho người nước ngoài của khách sạn Continental. Đây là quán cà phê sang đầu tiên ở Catinat, sau là Tự Do, và ngày nay là Đồng Khởi.

Không thấy nhắc đến  Givral. Có lẽ vào cái thời mà Việt Minh chưa về Hà Nội và Sài Gòn vẫn là đô thị hải ngoại của nước Pháp, cái chỗ mà sau này mở Givral vẫn là tiệm thuốc tây Solirène. Givral là quán cà phê thứ hai ở Caninat, dành cho khách Việt thượng lưu, và có lẽ là quán đầu tiên sang trọng dành cho người Việt.

Đọc tiếp

Tiệm mì, Ngã tư, Sài Gòn, Biển Đông

(Copy một loạt từ FB về đây).

1. Tính từ

Cấp ba, tôi học trong ký túc xá Mễ Trì của Đại học tổng hợp Hà Nội.

Đó là những năm cuối cùng của bao cấp và năm đầu tiên của cái mà về sau nay được gọi đổi mới.

Ký túc xá rất nghèo nàn, lạc hậu và bẩn thỉu. Bẩn nhất là nhà vệ sinh công cộng ở đầu hành lang mỗi tầng.

Các anh chị sinh viên thì vô tư, hay có các cuộc giao lưu sinh viên trường nọ với trường kia. Sinh viên đại học văn hóa qua chơi thì rất hay nói bậy.

Hồi đó có câu: “Nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất, còn trường văn hóa là thiếu văn hóa nhất”.

Nay thấy báo chí nói người đứng đầu thanh tra chính phủ về hưu xây nhà ở quê to vật, người đứng đầu nội chính bắt tham nhũng lại có tiền đi chữa bệnh tận Hoa Kỳ, bất chợt nghĩ đến cái câu “nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất”. Một câu lẽ ra chỉ đúng ở thời kỳ bao cấp, xã hội đóng cửa, sống bầy đàn với nhau.

Lại nhớ hồi còn bé hơn, còn học cấp hai, sống ở một khu tập thể. Trong khu đấy các hàng xóm là cán bộ nhà nước, rất là nghèo, đi xe đạp, xem TV đen trắng ở phòng công cộng của cơ quan. Nhưng họ rất trẻ trung và tếu táo. Họ hay chế diễu chính phủ là một loại triều đình, quan chức là hoàng tộc. Đứng đầu bộ giáo dục là Tôn Thất Học, bộ y tế là Tôn Thất Đức, bộ tài chính là Tôn Thất Thu, bộ nông nghiệp là Tôn Thất Bát, bộ lao động là Tôn Thất Nghiệp.

Nhìn vào các vấn đề y tế, kinh tế, giáo dục … bây giờ, lại nhớ đến các Tôn Thất đầy diễu cợt hồi xa xưa ấy.

Người ta ca ngợi thành tựu của cái gọi là đổi mới quá nhiều rồi. Tóm lại, cái việc undo những gì mà nhà nước làm sai, quay lại làm theo cách thế giới người ta đã làm từ lâu, thì được gọi là đổi mới, cứu nước cứu dân.

Nhưng chả có ai rút ra sai lầm của đổi mới.

Theo tôi, đổi mới đã sản sinh ra hai quái vật không biết phải gọi là gì. Một là chủ nghĩa cộng sản buông thả. Hai là nền kinh tế man rợ.

Ngày nay ta hay gặp kền kền của truyền thông, linh cẩu y tế, lang sói giáo dục. Nhưng lỗi không phải ở tự thân kền kền, linh cẩu, lang sói. Gốc rễ của cái xã hội bi đát này, chính là thời kỳ đổi mới mà hậu quả của nó sau mấy chục năm là buông thả về chính trị, man rợ về kinh tế.

Thế là một quốc khánh nữa sắp qua đi!

2. Dừng Đèn Đỏ: Bóng Đá, Lưu Á Châu và Biển Đông

Lưu Á Châu có một đoạn phân tích về kiềm chế cảm xúc. Phải nói là rất thú vị. Nhưng từ từ để kể xong chuyện này đã.

Nhân Tuấn Trương gần đây có một status về bóng đá. Anh này bảo các trận đá xem chán thực ra là rất … hay. Ý là khó có trận đấu nào hay cả với khán giả, cả với giới chuyên gia. Trận đấu hay với khán giả, thì thường là giàu cảm xúc, ít tính toán giằng co chiến thuật. Ngược lại, trận nào mà giới chuyên gia xem sướng điên lên thì khán giả sẽ thấy buồn ngủ, ví dụ trận Pháp – Đức.

Nếu anh Tuấn này mà để ý, sơ đồ cầu thủ trước mỗi trận đấu, họ gọi là sơ đồ chiến thuật, tiếng Việt cũng thế mà tiếng Anh cũng thế. Họp chiến thuật, kể cả họp chiến thuật giữa 2 hiệp, là rất quan trọng. Xây dựng chiến thuật cho từng trận, phần lớn do HLV và đội trưởng. Có những đội bóng yếu kém mà vào tay HLV xịn thì khác. Mà HLV xoàng, nhưng đội trưởng xịn (Pháp thời Zidane với ông HLV gì tự nhiên quên tên) thì vẫn là đội mạnh.

Việc đấu tranh biển đảo giữa ta và Tàu cũng thế. Đôi khi cuộc đấu rất lề mề buồn tẻ, nhân dân rất dỗi, ồn ào phản đối. Cuộc đấu buồn tẻ có 2 loại. Một loại là kiểu V-league, cầu thủ yếu kém, đá như đá khoán cho hết trận là về, HLV lú lẫn chả biết chiến thuật là gì, trận này phải đá ra sao. Một loại là đấu trí cao cường, kiểu “kiếm ý”, khán giả ngồi ngoài xem chả hiểu gì, rất chán.

Đọc tiếp

Trước và Sau

Tiếng Việt có cái thú vị là nó hơi lỏng lẻo.

Nói “Anh Khệnh về quê với vợ” có thể hiểu là anh ấy đi công tác xa quê, lấy vợ, nay cả hai vợ chồng cùng về quê; cũng có thể hiểu vợ sống ở quê, anh công tác xa nhà, nay về với vợ.

Hay câu đố vui mà trả lời thế nào thì cũng sai: “Con cún lúc tè, giơ chân sau hay giơ chân trước?”.

Hồi trước, câu hỏi cải cách nên thế nào, làm cái gì trước, cái gì sau, thật là khó trả lời. Người bảo phải cải cách thể chế trước. Người bảo kinh tế phải làm đầu tiên. Người bảo dân chủ phải làm ngay. Người bảo phải nâng cao dân trí, sau mới mở cho dân chủ.

Hồi sau này, ấy là sau khi giàn khoan cắm phập vào mặt chúng ta, tự nhiên trước-sau rõ ràng thành ra cái nghĩa khác.

Bây giờ trước là phía trước, là hải đảo, là chủ quyền, là phải đương đầu với giặc. Sau là phía sau lưng nhà vua ấy. Đọc tiếp

Khác lối

Nhìn lại lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam và bỏ qua tất cả các yếu tố rườm rà che lấp, ta sẽ thấy có một điểm cực kỳ đặc biệt.

Tất cả các cuộc chiến chống ngoại xâm mà ta thắng, dù kẻ thù là Nam Hán, Tống, Thanh, Pháp, Mỹ, thì về cốt lõi ta đều khác đối thủ của mình: hoặc khác ý thức hệ, hoặc khác học thuyết quân sự, tư duy và công nghệ tác chiến; hoặc khác cả hai.

Lúc nó Nho giáo thì ta Phật giáo, lúc họ tự do thì ta cộng sản, lúc chúng dùng ngựa và cung tên thì ta dùng voi và hỏa hổ.

Lúc khác ý thức hệ mà kém về học thuyết quân sự thì chiến thắng phải qua trường kỳ, như Lê Lợi, như Việt Minh. Lúc vượt trội về tư duy tác chiến và công nghệ chiến đấu, như Quang Trung, thì đánh kẻ thù nào thắng cũng nhanh như rửa đít em bé.

Phải khác biệt thì mới chiến thắng.

Nhưng nay thì khó rồi. Ý thức hệ giống nhau. Bộ máy tổ chức từ đảng cầm quyền đến quân đội, chính quyền địa phương hao hao nhau. Định hướng nền kinh tế giống nhau. Phương thức quản lý xã hội cũng giống nhau. Tàu ngầm máy bay cũng giống nhau nốt. Giống cả tên tờ báo Nhân Dân. Haizz

Đọc tiếp

Nhân sự trong vỏ hạt dẻ

Trong cuốn sách Freakonomics của nhà kinh tế Steven Levitt có một trường hợp nghiên cứu khá thú vị. Có một năm tự nhiên tỷ lệ tội phạm dùng súng ở Hoa Kỳ giảm toẹt xuống. Bất ngờ quá, người ta đi tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân được tính đến, từ nâng chất lượng lực lượng cảnh sát đến các đạo luật kiểm soát vũ khí cá nhân, đều được xem xét. Mà hóa ra đều không phải. Tỷ lệ tội phạm giảm đột ngột, là do cách đấy mấy chục năm Mỹ cho phép phụ nữ phá thai. Nhờ phá thai mà các đứa trẻ lẽ ra phải sinh ra trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó nuôi dạy nên người, đã không phải ra đời nữa. Từ lúc đạo luật được thực thi đến lúc nó  có tác dụng xã hội, mất mấy chục năm, và khi nó có tác dụng thì rất bất ngờ, cả ở thời điểm lẫn kết quả.

Trong những năm 1945-1953, Việt Minh tiễu trữ tảo thanh các phần tử đối lập nổi bật rất mạnh tay. Nên đến năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gặp các vấn đề thiếu hụt nhân sự lãnh đạo cao cấp để lắp vào chính quyền mới. Ngô Đình Nhu buộc phải dùng những người giỏi hiếm hoi mà chính phủ tuyển dụng được vào cùng lúc nhiều chức vụ khác nhau trong nội các. Ở chính quyền địa phương, cả Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu buộc phải sử dụng lại công chức cũ thời thực dân, thậm chí có dính đến tận phong kiến. Mà hồi đó “đả thực phản phong” rất mạnh. Đến năm 1960 thì vấn đề nhân sự yếu kém của chế độ đệ nhất VNCH bộc lộ nhược điểm nặng nề. Nay nhìn lại, thấy cả tình báo miền bắc len vào (chưa kể tình báo các nước khác mà ta không biết). Chính quyền đệ nhất VNCH có những bộ óc rất tốt ở cấp cao, nhưng bộ sậu nội các, chính quyền địa phương và đặc biệt là quân sự rất yếu kém. Và nó sụp đổ rất nhanh chỉ trong vòng khoảng ba năm dưới các loại sức ép.

Chưa hết, nhân sự của phe đảo chính lại còn yếu kém hơn nữa. Chính các trí thức am hiểu thời sự miền nam, sau này còn than là các nhà lãnh đạo quốc gia (VNCH) sau 1963 toàn là chính trị gia tép riu.  Sau đảo chính, chính trường miền nam phải mất tới mấy năm để bình ổn bộ máy (1963-1966), phải sử dụng lại cả các chính trị gia đã hết thời. Nhưng rồi sau đó, sự yếu kém, tham lam của hệ thống lãnh đạo nhanh chóng gây ra các vấn đề trầm trọng và làm sụp đổ toàn bộ hệ thống chỉ trong vòng chưa đến mười năm (1975). Đọc tiếp

Chuyện hai cầu

Trong ảnh này có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có Hai Cau The Hucvẻ trang trọng.

Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.

Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ

Năm 1940.

Vào năm này chính quyền Vichy ở Pháp thân phe trục (phát xít), các nhân viên ngoại giao của Pháp ở Tokyo đạt được thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật, qua đó chính quyền Đông Dương thuộc Pháp “tề” Nhật. Người Nhật, sau khi thoát khỏi cái bóng khổng lồ của ý thức hệ Trung Hoa, đã tự mình phương tây hóa, tự chủ, lớn mạnh và thắng luôn cái bóng đen khổng lồ Trung Hoa (chiến tranh Trung Nhật Giáp Ngọ 1894-1895), thắng quân đội Nga (1904-1905), chiếm toàn bộ Triều Tiên, rồi chiếm toàn bộ Trung Hoa (1937-1945) và ở thời điểm Pháp ở Đông Dương (Indochina) tề Nhật (1940) thì Nhật đã chiếm Đông Nam Á.

Indochina rất quan trọng. Người Nhật dùng phía bắc (Đàng Ngoài, Đông Kinh = Tonkin) để làm hậu cần cho quân đội Nhật ở Quảng Tây và Vân Nam thông qua cảng Hải Phòng và đường bộ đi tới Lạng Sơn. Họ dùng phía nam (Đàng Trong = Cochinchina) để làm căn cứ hải quân và không quân . Lúc này quân đồng minh (Hoa Kỳ) đã có các hoạt động quân sự ở quanh Hà Nội và Hải Phòng, quân Nhật đã bị máy bay Mỹ ném bom.

Trong một quãng thời gian rất ngắn ở thời điểm Pháp Nhật đang thỏa thuận, ngày 22.9.1940 quân đội Nhật cùng một nhóm quân vũ trang người Việt và người Hoa (Kiến quốc quân, thuộc Việt Nam Phục Quốc Quân của Hoàng Thân Cường Để) tiến từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Đồng Đăng, đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp rút chạy, rồi sau đó quân Nhật cũng rút trở lại qua biên giới. Kiến quốc quân và chỉ huy Trần Trung Lập ở lại chiến đấu, sau bị Pháp bắt và xử bắn ở Lạng Sơn. Cũng nhân biến cố này, các tù nhân của Đảng cộng sản Đông dương được Nhật thả ra từ nhà tù Lạng Sơn khởi nghĩa. Ngay sau đó Chu Văn Tấn được Hoàng Văn Thụ điều xuống nắm quyền. Cuộc khởi nghĩa này, chính là khởi nghĩa Bắc Sơn, bị Pháp quay lại dẹp rất nhanh.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy ủy ban khởi nghĩa đã thử nghiệm được mô hình chính quyền khởi nghĩa sau này được Việt Minh áp dụng khắp nơi trước khi chiến tranh Pháp -Việt (chiến tranh Đông Dương) nổ ra. Trong các thử nghiệm ấy có cả đánh du kích, phá hoại và tảo thanh (giết những người mà họ khép vào tội Việt gian). Chu Văn Tấn sau trở thành Bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám. Đọc tiếp

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Đọc tiếp

Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École des Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe). Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry  Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ  “Chartistes” để chỉ các sinh viên tinh hoa  của trường này. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có đi qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở VN và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp chỉ là cá nhân mà ông Nhu đã phá băng quan hệ Pháp Việt. Sau khi có ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu chống Mỹ mạnh hơn, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Diệm Nhu. Và theo như Phạm Xuân Ẩn trong “Perfect Spy” thì một trong những lực lượng gây ra cái chết của ông Nhu chính là CIA, đã can thiệp sâu vào đảo chính, thông qua một người bạn CIA của ông Ẩn tên là Lou Conein. Tuy nhiên, ông Ẩn tránh không nói đến ai trực tiếp ra lệnh giết ông Nhu, có thể bởi người ra lệnh (Minh Cồ) lại là bạn của ông Ẩn. Có vẻ như giữa ông Ẩn và ông Nhu chỉ có một người bạn chung nổi tiếng: đại tá Edward Lansdale, người vẫn được cho là nguyên mẫu của The Quiet American , và dù có không phải thì về sau tiểu sử của Lansdale vẫn có tên là The Unquiet American .

Trở về Hà Nội năm 1938 ngay sau khi tốt nghiệp (28 tuổi), ông Nhu làm việc như một học giả trẻ cho đến khi bị lùng bắt và phải bỏ trốn qua Lào rồi về Đà Lạt. Cụ thể từ năm 38 đến 43 ông làm nhân viên Nha văn khố trung ương Hà Nội. Sau đó kiêm thêm Chủ sự văn khố tòa khâm sứ Huế. Triều đình Huế cũng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch hội đồng chỉnh đốn Châu bản của Văn khố nhà Nguyễn. Sau đó Nhật đảo chính Pháp, ông Nhu (có thể vì có anh ruột là ông Diệm thân Nhật chống Pháp) nên được bổ nhiệm làm Giám đốc văn khố trung ương tại Hà Nội.  Năm 1945  ông Nhu đã kịp xuất bản cuốn khảo cứu ” “La Fête de l’ouverture du Printemps a Hanoi – Hội Khai xuân ở Hà Nội”.

Trong thời gian này, ông Nhu cũng lấy vợ, đám cưới được làm lễ ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Vợ ông là Trần Lệ Xuân, kém ông 14 tuổi, sau này nổi tiếng với tên gọi “đệ nhất phu nhân” ở Việt Nam,  và với tên do tổng thống Kennedy đặt là Dragon Lady (bà chằn) ở Mỹ. Trần Kim Tuyến mô tả bà Trần Lệ Xuân, một thiếu nữ trẻ đẹp, sống trong nhung lụa, phải học tiếng Việt qua gia sư, và là “một phụ nữ thuộc một giai cấp ở Việt Nam không có”. Bà Xuân đã “nuôi chồng” suốt thời gian  ông Nhu “thất nghiệp, chưa có sự nghiệp”, ở Đà Lạt và sau đó là Sài Gòn. Thời kỳ đó ông Nhu không có cả tiền để mua thuốc lá và ăn sáng, phải có bạn bè cộng sự “bao”. Cuộc sống giản dị kiểu một trí thức khắc kỷ này đã đi cùng ông Nhu đến hết cuộc đời.

Đọc tiếp

Từ chuyện Trại trở về chuyện Hồng Bàng

Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.

“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.

Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.

Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:

“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh

Lại thi thái-học chư-sinh,

Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.

Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ. Đọc tiếp