Trong vỏ hạt dẻ (tiếp và hết)

I. OSS Hoa Kỳ, quân Đồng Minh và múi giờ Hà Nội

Là con một gia đình dòng dõi ở Chicago, Albert Peter Dewey vào học đại học Yale, tốt nghiệp, đi làm phóng viên thường trú ở Paris cho Chicago Daily News và thực hiện các nhiệm vụ ngầm cho Rockefeller. Thế chiến 2 nổ ra, Dewey đăng lính và cuối cùng gia nhập OSS (cơ quan tiền thân của CIA). Đầu tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (15 tháng 8), Dewey được cử đến Sài Gòn, đứng đầu một toán OSS có 7 thành viên, để đại diện cho quyền lợi Hoa Kỳ. Ở thời điểm này Hoa Kỳ chưa có cơ quan ngoại giao trên đất Đông Dương thuộc Pháp.

Khoảng nửa năm trước khi nhóm OSS của Dewey đến Sài Gòn, quân Nhật bất ngờ đảo chính Pháp ở Đông Dương (tháng 3), bắt giữ tù binh (POW), trong đó hơn 200 người Mỹ. Khi Dewey tới Sài Gòn thì Thế chiến 2 đã kết thúc, Nhật đã đầu hàng quân Đồng Minh, ở Hà Nội Việt Minh đã cướp được chính quyền, và đang được phe Đồng Minh (Mỹ, Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch) yểm trợ vì có công chống Nhật. Đọc tiếp

Từ chuyện Trại trở về chuyện Hồng Bàng

Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.

“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.

Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.

Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:

“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh

Lại thi thái-học chư-sinh,

Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.

Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ. Đọc tiếp

Sound of Silence

la-pagode-saigonCái milk-bar mà Phượng của Fowler thường ngồi vào cuối sáng, tôi luôn nghĩ rằng nó phải nằm đâu đó quanh số nhà trên đường Catinat mà sau này thành nhà in sách nổi tiếng Albert Portail chuyển đến. Nhà sách của Portail, chuyển qua đến mấy đời chủ, gốc gác xưa cũ là của ông Claude từ năm 1905, nhà in sách Claude et Cie. Nhà sách Portail ấy sau này, cỡ năm 1955, đổi tên thành Xuân Thu mà bà chủ của nó, cũng như của cái rạp hát Eden, được cho là  đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Graham Greene đến Sài Gòn, hay đúng hơn là Sài Gòn trong The Quiet American của ông, đã không có cái nhà sách ấy.

Cái Pavilion, chéo qua bên kia đường với cái milk-bar,  mà Fowler ghé qua uống bia lạnh và để tránh Phượng, được Green mô tả là một “coffee centre” cho phụ nữ Châu Âu và Mỹ. Ở đó Fowler chứng kiến vụ đánh bom. Cái Pavilion này tôi tin chắc chính là quán cà phê Terrace dành cho người nước ngoài của khách sạn Continental. Đây là quán cà phê sang đầu tiên ở Catinat, sau là Tự Do, và ngày nay là Đồng Khởi.

Không thấy nhắc đến  Givral. Có lẽ vào cái thời mà Việt Minh chưa về Hà Nội và Sài Gòn vẫn là đô thị hải ngoại của nước Pháp, cái chỗ mà sau này mở Givral vẫn là tiệm thuốc tây Solirène. Givral là quán cà phê thứ hai ở Caninat, dành cho khách Việt thượng lưu, và có lẽ là quán đầu tiên sang trọng dành cho người Việt.

Đọc tiếp

Air America

Bức ảnh nổi tiếng về sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 là bức ảnh có caption “Cuộc di tản bằng trực thăng trên nóc nhà tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4”. Ảnh do Hubert Van Es lúc đó làm cho United Press chụp.

Bức ảnh này được chụp khoảng 2:30 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tòa nhà trong ảnh không phải là tòa nhà đại sứ Mỹ  (nay đã bị phá và xây tòa lãnh sự mới) mà là tòa nhà Pittman Apartments ở 22 Gia Long (nay là 22 Lý Tự Trọng, nằm cạnh trường Trần Đại Nghĩa, đi xuôi Đồng Khởi, rẽ trái độ vài chục mét là tới). Hubert Van Es chụp bức ảnh này từ ban công office của mình trên tòa nhà khách sạn Peninsula Hotel.

Cái máy bay Huey nhỏ trong tấm hình nổi tiếng này cũng không phải là trực thăng của hải quân Mỹ, mà là của Air America, một hãng hàng không tư nhân do CIA bí mật sở hữu.

Chỉ trong riêng hai ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975 đã có 7,014 người được đưa ra tàu của hải quân Mỹ bằng máy bay, trong đó Air America được ghi nhận thành tích không vận khoảng hơn 1000 (có tài liệu nói tới 5,595 ) người ra tàu của hải quân Mỹ, hoặc tới các điểm trung chuyển (tòa đại sứ, cơ sở của DAO ở sân bay Tan Sơn Nhất, Cam Ranh). Máy bay của hải quân Hoa Kỳ chủ yếu bay từ sân tennis của tòa đại sứ hoặc từ Tân Sơn Nhất, Cam Ranh ra tàu quân sự ngoài biển.

Các chuyến giải cứu của Air America tromh những ngày cuối cùng của Sài Gòn trước khi sụp đổ khá ngoạn mục. Các cú hạ cánh lên nóc nhà trong thành phố (Sài Gòn và Cần Thơ) đều là do Air America dùng trực thăng thực hiện. Các phi công của Air America cũng sử dụng máy bay vận tải để di tản người từ căn cứ lớn nhất của họ ở Việt Nam là Đà Nẵng ra Cam Ranh.

Trong số những người di tản bằng trực thăng từ nóc tòa nhà Pittman có Trần Văn Đôn và Trần Kim Tuyến.

Đây là lần thứ hai Air America tham gia không vận ở Việt Nam. Năm 1954 họ tham gia cầu hàng không lớn nhất thế giới ở thời điểm ấy, chuyển được khoảng 20 ngàn người di cư từ miền bắc vào nam. Trong các chuyến bay ngược từ Nam ra Bắc họ chở biệt kích, điện đài, súng và thuốc nổ để phục vụ các chiến dịch phá hoại miền bắc sau 1954. Các chiến dịch này đều liên quan đến Landale và Conein. Conein lúc này sử dụng vỏ bọc MAAG và có văn phòng ở Hà Nội, chi nhánh ở Hải Phòng. Nhiệm vụ bề mặt của văn phòng này là giám sát di cư ở đầu miền bắc. Ở Hải Phòng vũ khí được chôn ở nghĩa trang thông qua các đám ma giả. Ở đồng bằng bắc bộ, vũ khí thuốc nổ và điện đài được chôn dọc theo sông Hồng, mãi đến năm 1964 miền Bắc mới tìm được vài  kho vũ khí bí mật này. Điệp viên gửi ra miền bắc bằng máy bay của Air America sau đều sợ quá nên lại… lên tàu di cư vào Nam cùng những người lính Pháp cuối cùng. Các người nhái được đào tạo và thả từ biển vào hoặc biệt kích nhảy dù sau 1954 đều bị bắt và giam đến 1975. Người làm thất bại các chiến dịch phá hoại hậu phương này được cho là Phạm Xuân Ẩn và các bạn của ông. Đọc tiếp

Đọc Đèn Cù thế nào?

Cách đây mấy năm tôi có nói chuyện với chú Trần Đĩnh. Chú ấy rất thích trinh thám (cái này giống chú Tạ Chí Đại Trường quá) và rất thích thể loại “nonfiction novel” của Truman Capote. Đây có lẽ là lý do chú ấy già rồi mà vẫn dịch cuốn In Cold Blood của Capote cho Nhã Nam (Máu Lạnh). Chú Đĩnh cũng là người viết Bio cho các nhân vật cộng sản (điển hình hoặc lãnh tụ), trong đó có Bất Khuất. Đọc Đèn Cù, sẽ thấy chú Đĩnh còn rất thích các tự truyện mà được đánh giá như là tiểu thuyết (ví dụ của M. Gorky). Không phải vô cớ mà chú Đĩnh đặt Đèn Cù của mình vào thể loại sách mà chú gọi là “truyện tôi”. Nó là truyện (chứ không phải sử, không phải ký), nhưng mà của và về tôi.

Về cách viết. Chú Đĩnh nhận mình là bồi bút (trong sách tự nhận mấy lần). Thực chất chú ấy là “cây bút của chế độ”. Được chế độ sủng ái. Lý do không phải chú ấy đỏ rực. Mà, cái này tôi đoán, là văn phong của chú ấy rất hợp với việc tô hồng, anh hùng hóa, điển hình hóa các nhân vật của chế độ. Trong sách chú có kể mình được một nhà văn khác khen là viết muscle. Tức là văn chương cơ bắp cuồn cuộn. Lúc kể cho tôi chi tiết này, chú còn diễn lại hành động của nhà văn kia, bằng cách chụp lấy vai và bắp tay tôi lắc lắc rồi nói cái câu ấy. Giờ ta nhìn lại, quả thấy cái giọng văn chắc nịch, mà tôi thấy có nhiều câu bỏ cả giới từ, đọc khó hiểu, nhưng rắn chắc như lưỡi mai xắn vào đất thịt, lại rất hợp với các kiểu anh hùng ca để tô hồng cách mạng. Lê Đức Thọ ve vãn chú Đĩnh viết Bio cho mình, chắc cũng mơ màng mình đi vào sách với sự cứng cáp oai hùng (nhờ ngòi bút của cây bút được Trường Chinh và Hồng Hà ái mộ). Qua đây mới biết nhân tài cầm bút dưới bóng của chế độ ấy hiếm như thế nào. Tầm cỡ Sáu Búa phải đi ve vãn tác giả của Bất Khuất, có thể thấy chất lượng đội ngũ cầm bút phục vụ tuyên truyền của chế độ xoàng đến thế nào. Đọc tiếp

Tiệm mì, Ngã tư, Sài Gòn, Biển Đông

(Copy một loạt từ FB về đây).

1. Tính từ

Cấp ba, tôi học trong ký túc xá Mễ Trì của Đại học tổng hợp Hà Nội.

Đó là những năm cuối cùng của bao cấp và năm đầu tiên của cái mà về sau nay được gọi đổi mới.

Ký túc xá rất nghèo nàn, lạc hậu và bẩn thỉu. Bẩn nhất là nhà vệ sinh công cộng ở đầu hành lang mỗi tầng.

Các anh chị sinh viên thì vô tư, hay có các cuộc giao lưu sinh viên trường nọ với trường kia. Sinh viên đại học văn hóa qua chơi thì rất hay nói bậy.

Hồi đó có câu: “Nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất, còn trường văn hóa là thiếu văn hóa nhất”.

Nay thấy báo chí nói người đứng đầu thanh tra chính phủ về hưu xây nhà ở quê to vật, người đứng đầu nội chính bắt tham nhũng lại có tiền đi chữa bệnh tận Hoa Kỳ, bất chợt nghĩ đến cái câu “nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất”. Một câu lẽ ra chỉ đúng ở thời kỳ bao cấp, xã hội đóng cửa, sống bầy đàn với nhau.

Lại nhớ hồi còn bé hơn, còn học cấp hai, sống ở một khu tập thể. Trong khu đấy các hàng xóm là cán bộ nhà nước, rất là nghèo, đi xe đạp, xem TV đen trắng ở phòng công cộng của cơ quan. Nhưng họ rất trẻ trung và tếu táo. Họ hay chế giễu chính phủ là một loại triều đình, quan chức là hoàng tộc. Đứng đầu bộ giáo dục là Tôn Thất Học, bộ y tế là Tôn Thất Đức, bộ tài chính là Tôn Thất Thu, bộ nông nghiệp là Tôn Thất Bát, bộ lao động là Tôn Thất Nghiệp.

Nhìn vào các vấn đề y tế, kinh tế, giáo dục … bây giờ, lại nhớ đến các Tôn Thất đầy giễu cợt hồi xa xưa ấy.

Người ta ca ngợi thành tựu của cái gọi là đổi mới quá nhiều rồi. Tóm lại, cái việc undo những gì mà nhà nước làm sai, quay lại làm theo cách thế giới người ta đã làm từ lâu, thì được gọi là đổi mới, cứu nước cứu dân.

Nhưng chả có ai rút ra sai lầm của đổi mới.

Theo tôi, đổi mới đã sản sinh ra hai quái vật không biết phải gọi là gì. Một là chủ nghĩa cộng sản buông thả. Hai là nền kinh tế man rợ.

Ngày nay ta hay gặp kền kền của truyền thông, linh cẩu y tế, lang sói giáo dục. Nhưng lỗi không phải ở tự thân kền kền, linh cẩu, lang sói. Gốc rễ của cái xã hội bi đát này, chính là thời kỳ đổi mới mà hậu quả của nó sau mấy chục năm là buông thả về chính trị, man rợ về kinh tế.

Thế là một quốc khánh nữa sắp qua đi!

2. Phim Hồng Công.

Có hồi mình đi làm, cắm mặt vào việc, hồi đó chưa có internet, bỗng dưng sau mấy năm ngẩng mặt lên thấy chị em ở SG mê phim Hàn. Tò mò xem. Diễn viên thì cũng đẹp mà diễn ngu như bò. Không thể so với phim Hồng Công được. Hồi đó lâu rồi, giờ chắc có tiến bộ. Nhưng xem phim của Park Chan-wook, câu chuyện cực hay, cách kể cũng hay, mà diễn viên cứ có cái vẻ vụng về thế nào. Phim của Kim Ki Duk cũng thế, diễn viên diễn cứ vụng làm sao.

Phim Hồng Công thì có nhiều cái hay. Nhưng hay nhất là các phim (ko phải cổ trang) bọn HK ăn mặc đẹp vãi chưởng. Tuyền hàng hiệu. Xe hơi, đồ điện tử cũng đẹp. Ngay cả Lương Triều Vĩ đóng cảnh sát, hay mấy phim truyền hình về HK Cop, ăn mặc cũng đẹp hehehe. Phim Hàn thì ăn mặc với đồ dùng toàn cổ súy cho nội địa, nhìn quê bỏ mẹ.

Tất nhiên quần áo không làm nên bộ phim hay. Cũng như dân trí không làm nên dân chủ, mà chỉ là gia vị hiệu Anh Gau Pham. Nhưng mà phim cho diễn viên ăn mặc xấu, các bác có thích xem ko, trừ phim con heo ra? Biểu tình mà dân trí cao hehe, như HK, thích bỏ mẹ. Đến siêu thị đêm nó còn mở cửa, để cảnh sát nó có tấn công thì người biểu tình vào mà trốn. Người dân thấy biểu tình lịch lãm, mới ra sức mà ủng hộ. Mang cả cơm cho ăn. Ở VN mà biểu tình đông thế, chắc đái ỉa um cả phố lên. Smartphone chắc bị móc túi hết, lấy đâu ra mà lên mạng. Chưa kể biểu tình HK có tới mấy nhóm tổ chức. Ở VN mà thế, riêng các phe đã cãi nhau xem làm theo cách của ai là đúng, rồi cuối cùng là đm thằng TH, đm thằng thủ đô, đm thằng NA, thế là biểu tình thành ra tỉn nhau loạn cả phố lên rồi. Gia vị có khi thành món chính hehe, cay vãi.

Nhưng nói thế để chê giới trẻ VN là không đúng. Mà phải rõ là giới trẻ nào.

Lại nói về phim HK. Có một bộ phim tên là For a better Tomorrow. Phần 3. Tên là cai gì yêu VN, quên mẹ rồi. Trong phần 3 ấy có cảnh sinh viên học sinh VN biểu tình.

Thời trước 1975, SVHS VN biểu tình chống chế độ, phản đối cái nọ cái kia là bình thường. Trần Văn Ơn là học sinh Petrus Ký bị Pháp bắn chết trong đợt bãi khóa biểu tình năm 1950. Quách Thị Trang bị bắn chết khi mới 15 tuổi, do tham gia biểu tình của học sinh sinh viên chống chế độ Diệm. Các phong trào sinh viên ngày ấy còn đi cả vào tiểu thuyết, kiểu Mắt Bồ Câu và Rừng Phi Tiễn của Thu Bồn (phi tiễn là đạn bắn hơi cay như cảnh sát HK bắn vọt qua đầu rồi rơi vào đám biểu tình). Tượng Quách Thị Trang nay vẫn còn ở trước chợ Bến Thành.

Sau 1975, thời bao cấp. SV Hà Nội và SG hồi bao cấp bãi khóa và nổi loạn nho nhỏ, nhưng bị nhà trường với các chú công an vận động cho xịt hết. Xịt đến tận bây giờ.

Thôi xịt luôn cũng được, giờ mà ở VN có biểu tình kiểu HK, mình già thế này mà bị phân vào nhóm dọn vệ sinh với canh bọn móc túi, chắc chết vì quá tải mất heheheheehe.

Nhưng mà phim Hồng Công hay thì mình vẫn xem, ủng hộ và học tập phải không các bác.

3. Hồng Công.

Khoảng năm 1931, Tống Văn Sơ (Sung Man Cho) bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Công và giam ở đây tới mấy năm. Có khả năng Nhật ký trong tù của HCM lại liên quan đến Sung Man Cho thời kỳ này. Điều này đúng sai vẫn còn bí ẩn, nhưng chắc chắn Sung Man Cho sau chính là Nguyễn Ái Quốc ở Moscow cùng với Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai.

Cách đây nhiều năm, tôi hay có khách ở Hồng Công qua làm việc ở Hà Nội. Cứ phải dẫn đi ăn và nói chuyện cho nó đỡ buồn. Có lần có anh bạn ở Sài Gòn ra, rủ đi ăn cùng luôn. Nói chuyện qua lại, hay quay về chủ đề trả Hồng Công lại cho Tàu, dân HK tự chọn hộ chiếu. Anh khách SG hỏi anh khách Hồng Công, là đố mày giá trị của Hồng Công là gì. Anh khách HK bí lắm. Anh khách SG mới bảo: đó là kung-fu movies và democracy. Anh HK mặt đần ra. Mấy hôm sau gặp lại, nói: mày bảo với anh mày là tao cám ơn ông ấy, chưa ai nói chuyện với tao như thế.

Hồi đó mật thám Pháp hay giăng bẫy bắt người Việt làm cách mạng ở  Thượng Hải, nơi nước Pháp có tô giới. Phan Bộ Châu bị lừa đi qua vùng tô giới của Pháp ở Thượng Hải mà bị bắt và đưa về VN. Hồ Tùng Mậu bị trục xuất từ HK qua Thượng Hải, rồi bị mật thám Pháp tóm cổ. Đây là cách mật thám Pháp “cấu kết” với cảnh sát Anh để bắt phần tử chống đối của 2 bên.

Riêng với Sung Man So, nhờ Cứu tế Đỏ trả tiền thuê luật sư Loseby, và nhờ Democracy của HK, mà đấu tranh pháp lý để Sung Man So không bị trục suất về Thượng Hải. Nhờ đó không bị tóm cổ mà đưa về VN rồi đưa về Vinh, nơi Nguyễn tất Thành và Trần Phú dính án tử hình ở đó. Chưa kể trong thời gian này, nhờ chế độ Dân chủ mà được đưa đi chữa bệnh, nên cũng thoát chết. Sau khi được phóng thích, thoát khỏi HK, Sung Man So đi TQ với tên Lý Sính Sáng, rồi đi Nga học trường đảng Lenin. Từ đó chính thức có Nguyễn Ái Quốc, rồi trở về TQ, rồi trở lại VN làm cách mạng. Rất may là có dân chủ ở HK, nên vừa khỏi ốm lại vừa thoát khỏi tay bọn Pháp đấy hehehe. Nên mới có ngày nay hehehe.

4. Dừng Đèn Đỏ: Bóng Đá, Lưu Á Châu và Biển Đông

Lưu Á Châu có một đoạn phân tích về kiềm chế cảm xúc. Phải nói là rất thú vị. Nhưng từ từ để kể xong chuyện này đã.

Nhân Tuấn Trương gần đây có một status về bóng đá. Anh này bảo các trận đá xem chán thực ra là rất … hay. Ý là khó có trận đấu nào hay cả với khán giả, cả với giới chuyên gia. Trận đấu hay với khán giả, thì thường là giàu cảm xúc, ít tính toán giằng co chiến thuật. Ngược lại, trận nào mà giới chuyên gia xem sướng điên lên thì khán giả sẽ thấy buồn ngủ, ví dụ trận Pháp – Đức.

Nếu anh Tuấn này mà để ý, sơ đồ cầu thủ trước mỗi trận đấu, họ gọi là sơ đồ chiến thuật, tiếng Việt cũng thế mà tiếng Anh cũng thế. Họp chiến thuật, kể cả họp chiến thuật giữa 2 hiệp, là rất quan trọng. Xây dựng chiến thuật cho từng trận, phần lớn do HLV và đội trưởng. Có những đội bóng yếu kém mà vào tay HLV xịn thì khác. Mà HLV xoàng, nhưng đội trưởng xịn (Pháp thời Zidane với ông HLV gì tự nhiên quên tên) thì vẫn là đội mạnh.

Việc đấu tranh biển đảo giữa ta và Tàu cũng thế. Đôi khi cuộc đấu rất lề mề buồn tẻ, nhân dân rất dỗi, ồn ào phản đối. Cuộc đấu buồn tẻ có 2 loại. Một loại là kiểu V-league, cầu thủ yếu kém, đá như đá khoán cho hết trận là về, HLV lú lẫn chả biết chiến thuật là gì, trận này phải đá ra sao. Một loại là đấu trí cao cường, kiểu “kiếm ý”, khán giả ngồi ngoài xem chả hiểu gì, rất chán.

Đọc tiếp

Trước và Sau

Tiếng Việt có cái thú vị là nó hơi lỏng lẻo.

Nói “Anh Khệnh về quê với vợ” có thể hiểu là anh ấy đi công tác xa quê, lấy vợ, nay cả hai vợ chồng cùng về quê; cũng có thể hiểu vợ sống ở quê, anh công tác xa nhà, nay về với vợ.

Hay câu đố vui mà trả lời thế nào thì cũng sai: “Con cún lúc tè, giơ chân sau hay giơ chân trước?”.

Hồi trước, câu hỏi cải cách nên thế nào, làm cái gì trước, cái gì sau, thật là khó trả lời. Người bảo phải cải cách thể chế trước. Người bảo kinh tế phải làm đầu tiên. Người bảo dân chủ phải làm ngay. Người bảo phải nâng cao dân trí, sau mới mở cho dân chủ.

Hồi sau này, ấy là sau khi giàn khoan cắm phập vào mặt chúng ta, tự nhiên trước-sau rõ ràng thành ra cái nghĩa khác.

Bây giờ trước là phía trước, là hải đảo, là chủ quyền, là phải đương đầu với giặc. Sau là phía sau lưng nhà vua ấy. Đọc tiếp

Khác lối

Nhìn lại lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam và bỏ qua tất cả các yếu tố rườm rà che lấp, ta sẽ thấy có một điểm cực kỳ đặc biệt.

Tất cả các cuộc chiến chống ngoại xâm mà ta thắng, dù kẻ thù là Nam Hán, Tống, Thanh, Pháp, Mỹ, thì về cốt lõi ta đều khác đối thủ của mình: hoặc khác ý thức hệ, hoặc khác học thuyết quân sự, tư duy và công nghệ tác chiến; hoặc khác cả hai.

Lúc nó Nho giáo thì ta Phật giáo, lúc họ tự do thì ta cộng sản, lúc chúng dùng ngựa và cung tên thì ta dùng voi và hỏa hổ.

Lúc khác ý thức hệ mà kém về học thuyết quân sự thì chiến thắng phải qua trường kỳ, như Lê Lợi, như Việt Minh. Lúc vượt trội về tư duy tác chiến và công nghệ chiến đấu, như Quang Trung, thì đánh kẻ thù nào thắng cũng nhanh như rửa đít em bé.

Phải khác biệt thì mới chiến thắng.

Nhưng nay thì khó rồi. Ý thức hệ giống nhau. Bộ máy tổ chức từ đảng cầm quyền đến quân đội, chính quyền địa phương hao hao nhau. Định hướng nền kinh tế giống nhau. Phương thức quản lý xã hội cũng giống nhau. Tàu ngầm máy bay cũng giống nhau nốt. Giống cả tên tờ báo Nhân Dân. Haizz

Đọc tiếp

Nhân sự trong vỏ hạt dẻ

Trong cuốn sách Freakonomics của nhà kinh tế Steven Levitt có một trường hợp nghiên cứu khá thú vị. Có một năm tự nhiên tỷ lệ tội phạm dùng súng ở Hoa Kỳ giảm toẹt xuống. Bất ngờ quá, người ta đi tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân được tính đến, từ nâng chất lượng lực lượng cảnh sát đến các đạo luật kiểm soát vũ khí cá nhân, đều được xem xét. Mà hóa ra đều không phải. Tỷ lệ tội phạm giảm đột ngột, là do cách đấy mấy chục năm Mỹ cho phép phụ nữ phá thai. Nhờ phá thai mà các đứa trẻ lẽ ra phải sinh ra trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó nuôi dạy nên người, đã không phải ra đời nữa. Từ lúc đạo luật được thực thi đến lúc nó  có tác dụng xã hội, mất mấy chục năm, và khi nó có tác dụng thì rất bất ngờ, cả ở thời điểm lẫn kết quả.

Trong những năm 1945-1953, Việt Minh tiễu trữ tảo thanh các phần tử đối lập nổi bật rất mạnh tay. Nên đến năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gặp các vấn đề thiếu hụt nhân sự lãnh đạo cao cấp để lắp vào chính quyền mới. Ngô Đình Nhu buộc phải dùng những người giỏi hiếm hoi mà chính phủ tuyển dụng được vào cùng lúc nhiều chức vụ khác nhau trong nội các. Ở chính quyền địa phương, cả Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu buộc phải sử dụng lại công chức cũ thời thực dân, thậm chí có dính đến tận phong kiến. Mà hồi đó “đả thực phản phong” rất mạnh. Đến năm 1960 thì vấn đề nhân sự yếu kém của chế độ đệ nhất VNCH bộc lộ nhược điểm nặng nề. Nay nhìn lại, thấy cả tình báo miền bắc len vào (chưa kể tình báo các nước khác mà ta không biết). Chính quyền đệ nhất VNCH có những bộ óc rất tốt ở cấp cao, nhưng bộ sậu nội các, chính quyền địa phương và đặc biệt là quân sự rất yếu kém. Và nó sụp đổ rất nhanh chỉ trong vòng khoảng ba năm dưới các loại sức ép.

Chưa hết, nhân sự của phe đảo chính lại còn yếu kém hơn nữa. Chính các trí thức am hiểu thời sự miền nam, sau này còn than là các nhà lãnh đạo quốc gia (VNCH) sau 1963 toàn là chính trị gia tép riu.  Sau đảo chính, chính trường miền nam phải mất tới mấy năm để bình ổn bộ máy (1963-1966), phải sử dụng lại cả các chính trị gia đã hết thời. Nhưng rồi sau đó, sự yếu kém, tham lam của hệ thống lãnh đạo nhanh chóng gây ra các vấn đề trầm trọng và làm sụp đổ toàn bộ hệ thống chỉ trong vòng chưa đến mười năm (1975). Đọc tiếp

Chuyện hai cầu

Trong ảnh này có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có Hai Cau The Hucvẻ trang trọng.

Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.

Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ

Năm 1940.

Vào năm này chính quyền Vichy ở Pháp thân phe trục (phát xít), các nhân viên ngoại giao của Pháp ở Tokyo đạt được thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật, qua đó chính quyền Đông Dương thuộc Pháp “tề” Nhật. Người Nhật, sau khi thoát khỏi cái bóng khổng lồ của ý thức hệ Trung Hoa, đã tự mình phương tây hóa, tự chủ, lớn mạnh và thắng luôn cái bóng đen khổng lồ Trung Hoa (chiến tranh Trung Nhật Giáp Ngọ 1894-1895), thắng quân đội Nga (1904-1905), chiếm toàn bộ Triều Tiên, rồi chiếm toàn bộ Trung Hoa (1937-1945) và ở thời điểm Pháp ở Đông Dương (Indochina) tề Nhật (1940) thì Nhật đã chiếm Đông Nam Á.

Indochina rất quan trọng. Người Nhật dùng phía bắc (Đàng Ngoài, Đông Kinh = Tonkin) để làm hậu cần cho quân đội Nhật ở Quảng Tây và Vân Nam thông qua cảng Hải Phòng và đường bộ đi tới Lạng Sơn. Họ dùng phía nam (Đàng Trong = Cochinchina) để làm căn cứ hải quân và không quân . Lúc này quân đồng minh (Hoa Kỳ) đã có các hoạt động quân sự ở quanh Hà Nội và Hải Phòng, quân Nhật đã bị máy bay Mỹ ném bom.

Trong một quãng thời gian rất ngắn ở thời điểm Pháp Nhật đang thỏa thuận, ngày 22.9.1940 quân đội Nhật cùng một nhóm quân vũ trang người Việt và người Hoa (Kiến quốc quân, thuộc Việt Nam Phục Quốc Quân của Hoàng Thân Cường Để) tiến từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Đồng Đăng, đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp rút chạy, rồi sau đó quân Nhật cũng rút trở lại qua biên giới. Kiến quốc quân và chỉ huy Trần Trung Lập ở lại chiến đấu, sau bị Pháp bắt và xử bắn ở Lạng Sơn. Cũng nhân biến cố này, các tù nhân của Đảng cộng sản Đông dương được Nhật thả ra từ nhà tù Lạng Sơn khởi nghĩa. Ngay sau đó Chu Văn Tấn được Hoàng Văn Thụ điều xuống nắm quyền. Cuộc khởi nghĩa này, chính là khởi nghĩa Bắc Sơn, bị Pháp quay lại dẹp rất nhanh.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy ủy ban khởi nghĩa đã thử nghiệm được mô hình chính quyền khởi nghĩa sau này được Việt Minh áp dụng khắp nơi trước khi chiến tranh Pháp -Việt (chiến tranh Đông Dương) nổ ra. Trong các thử nghiệm ấy có cả đánh du kích, phá hoại và tảo thanh (giết những người mà họ khép vào tội Việt gian). Chu Văn Tấn sau trở thành Bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám. Đọc tiếp

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Đọc tiếp