Chiếm và Giữ

Dùng bản đồ quân sự thời chiến tranh Nam Bắc 1967-1975 để đọc các sách về các map21bchiến dịch của …Nguyễn Huệ ở Đàng Trong thấy rất thích. Nói cách khác, đọc sách về các chiến dịch quân sự ở Đàng Trong của Nguyễn Huệ, ta nên dùng bản đồ quân sự của chiến tranh Việt Nam, sẽ thấy rất dễ hiểu.

Đọc các chiến dịch của Nguyễn Huệ và của các tướng bên phe Nguyễn Ánh ở vùng Gia Định, rồi đọc về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1967-1975, rồi xem bản đồ (giờ trên internet có rất nhiều), lờ mờ nhận ra: Miền Nam (nam trung bộ đổ vào) rất dễ đánh, dễ chiếm và đồng nghĩa là rất khó giữ. Quang Trung cũng thấy vậy nên không cố công mà giữ. Tất nhiên vì không bỏ công ra giữ nên Đàng Trong trở thành bàn đạp để Nguyễn Ánh lập quốc (và tất nhiên sau khi Quang Trung chết).

Cũng có thể lờ mờ nhận ra một điều nữa: vai trò của Cambodia rất quan trọng. Bình định được nước láng giếng này thì an toàn từ Cao Nguyên đến vùng biển Hà Tiên, tức là một không gian cực kỳ lớn. Đồng thời ổn định được quan hệ kiểu viễn giao với Thailand và Myanmar. Cho nên việc Việt Nam qua Cambodia lật đổ Khmer Đỏ có tác hại (khốc liệt) trong ngắn hạn, nhưng có lợi ích trong dài hạn. Đây cũng có thể là lý do mà Ngô Đình Nhu quyết lật đổ chỉnh quyền ở Cambodia bằng đảo chính mà thất bại nặng, để lại một đống tai họa góp phần đưa quân đội VNCH sau này của tổng thống Thiệu vào thế yếu. Mặc dù nhìn trên bản đồ, thấy quân đội VNCH bố trí phòng ngự đẹp ra phết, Quang Trung còn sống chắc cũng chỉ nghĩ đến thế là cùng. Nhưng mất Cambodia, và quân đội đánh đấm và phối hợp kém, rồi Mỹ ký Paris, thì  ở cái vùng dễ chiếm khó giữ này, thua mới là đúng. Đọc tiếp

Air America

15vanesobitBức ảnh nổi tiếng về sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 là bức ảnh có caption “Cuộc di tản bằng trực thăng trên nóc nhà tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn ngày 30 tháng 4”. Ảnh do Hubert Van Es lúc đó làm cho United Press chụp.

Bức ảnh này được chụp khoảng 2h30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tòa nhà trong ảnh không phải là tòa nhà đại sứ Mỹ  (nay đã bị phá và xây tòa lãnh sự mới) mà là tòa nhà Pittman Apartments ở 22 Gia Long (nay là 22 Lý Tự Trọng, nằm cạnh trường Trần Đại Nghĩa, đi xuôi Đồng Khởi, rẽ trái độ vài chục mét là tới). Hubert Van Es chụp bức ảnh này từ ban công office của mình trên tòa nhà khách sạn Peninsula Hotel.

Cái máy bay Huey nhỏ trong tấm hình nổi tiếng này cũng không phải là trực thăng của hải quân Mỹ, mà là của Air America, một hãng hàng không tư nhân do CIA bí mật sở hữu.

Chỉ trong riêng hai ngày 29 và 30 tháng 4 năm 1975 đã có 7,014 người được đưa ra tàu của hải quân Mỹ bằng máy bay, trong đó Air America được ghi nhận thành tích không vận khoảng hơn 1000 (có tài liệu nói tới 5,595 ) người ra tàu của hải quân Mỹ, hoặc tới các điểm trung chuyển (tòa đại sứ, cơ sở của DAO ở sân bay Tan Sơn Nhất, Cam Ranh). Máy bay của hải quân Hoa Kỳ chủ yếu bay từ sân tennis của tòa đại sứ hoặc từ Tân Sơn Nhất, Cam Ranh ra tàu quân sự ngoài biển.

Các chuyến giải cứu của Air America tromh những ngày cuối cùng của Sài Gòn trước khi sụp đổ khá ngoạn mục. Các cú hạ cánh lên nóc nhà trong thành phố (Sài Gòn và Cần Thơ) đều là do Air America dùng trực thăng thực hiện. Các phi công của Air America cũng sử dụng máy bay vận tải để di tản người từ căn cứ lớn nhất của họ ở Việt Nam là Đà Nẵng ra Cam Ranh.

Trong số những người di tản bằng trực thăng từ nóc tòa nhà Pittman có Trần Văn Đôn và Trần Kim Tuyến.

Đây là lần thứ hai Air America tham gia không vận ở Việt Nam. Năm 1954 họ tham gia cầu hàng không lớn nhất thế giới ở thời điểm ấy, chuyển được khoảng 20 ngàn người di cư từ miền bắc vào nam. Trong các chuyến bay ngược từ Nam ra Bắc họ chở biệt kích, điện đài, súng và thuốc nổ để phục vụ các chiến dịch phá hoại miền bắc sau 1954. Các chiến dịch này đều liên quan đến Landale và Conein. Conein lúc này sử dụng vỏ bọc MAAG và có văn phòng ở Hà Nội, chi nhánh ở Hải Phòng. Nhiệm vụ bề mặt của văn phòng này là giám sát di cư ở đầu miền bắc. Ở Hải Phòng vũ khí được chôn ở nghĩa trang thông qua các đám ma giả. Ở đồng bằng bắc bộ, vũ khí thuốc nổ và điện đài được chôn dọc theo sông Hồng, mãi đến năm 1964 miền Bắc mới tìm được vài  kho vũ khí bí mật này. Điệp viên gửi ra miền bắc bằng máy bay của Air America sau đều sợ quá nên lại… lên tàu di cư vào Nam cùng những người lính Pháp cuối cùng. Các người nhái được đào tạo và thả từ biển vào hoặc biệt kích nhảy dù sau 1954 đều bị bắt và giam đến 1975. Người làm thất bại các chiến dịch phá hoại hậu phương này được cho là Phạm Xuân Ẩn và các bạn của ông. Đọc tiếp

Đọc Đèn Cù thế nào?

Cách đây mấy năm tôi có nói chuyện với chú Trần Đĩnh. Chú ấy rất thích trinh thám (cái này giống chú Tạ Chí Đại Trường quá) và rất thích thể loại “nonfiction novel” của Truman Capote. Đây có lẽ là lý do chú ấy già rồi mà vẫn dịch cuốn In Cold Blood của Capote cho Nhã Nam (Máu Lạnh). Chú Đĩnh cũng là người viết Bio cho các nhân vật cộng sản (điển hình hoặc lãnh tụ), trong đó có Bất Khuất. Đọc Đèn Cù, sẽ thấy chú Đĩnh còn rất thích các tự truyện mà được đánh giá như là tiểu thuyết (ví dụ của M. Gorky). Không phải vô cớ mà chú Đĩnh đặt Đèn Cù của mình vào thể loại sách mà chú gọi là “truyện tôi”. Nó là truyện (chứ không phải sử, không phải ký), nhưng mà của và về tôi.

Về cách viết. Chú Đĩnh nhận mình là bồi bút (trong sách tự nhận mấy lần). Thực chất chú ấy là “cây bút của chế độ”. Được chế độ sủng ái. Lý do không phải chú ấy đỏ rực. Mà, cái này tôi đoán, là văn phong của chú ấy rất hợp với việc tô hồng, anh hùng hóa, điển hình hóa các nhân vật của chế độ. Trong sách chú có kể mình được một nhà văn khác khen là viết muscle. Tức là văn chương cơ bắp cuồn cuộn. Lúc kể cho tôi chi tiết này, chú còn diễn lại hành động của nhà văn kia, bằng cách chụp lấy vai và bắp tay tôi lắc lắc rồi nói cái câu ấy. Giờ ta nhìn lại, quả thấy cái giọng văn chắc nịch, mà tôi thấy có nhiều câu bỏ cả giới từ, đọc khó hiểu, nhưng rắn chắc như lưỡi mai xắn vào đất thịt, lại rất hợp với các kiểu anh hùng ca để tô hồng cách mạng. Lê Đức Thọ ve vãn chú Đĩnh viết Bio cho mình, chắc cũng mơ màng mình đi vào sách với sự cứng cáp oai hùng (nhờ ngòi bút của cây bút được Trường Chinh và Hồng Hà ái mộ). Qua đây mới biết nhân tài cầm bút dưới bóng của chế độ ấy hiếm như thế nào. Tầm cỡ Sáu Búa phải đi ve vãn tác giả của Bất Khuất, có thể thấy chất lượng đội ngũ cầm bút phục vụ tuyên truyền của chế độ xoàng đến thế nào. Đọc tiếp

Tiệm mì, Ngã tư, Sài Gòn, Biển Đông

(Copy một loạt từ FB về đây).

1. Bức tường Berlin

Người ta vẫn cho rằng thời kỳ đỉnh cao của các học giả Vạn Hạnh trước 1975 cũng là thời kỳ các trào lưu tư tưởng mới mẻ nhất của Châu Âu được du nhập vào Sài Gòn (thủ đô Việt Nam Cộng Hòa) nhanh nhất.

Nhưng chắc không nhanh bằng sự du nhập làn sóng Cải Tổ, Đổi Mới Tư Duy và cả Sám Hối nữa từ Liên Xô và Đông Âu về Hà Nội (thủ đô Việt Nam).

Nhanh và còn rộng hơn. Đâu cũng nói về đổi mới tư duy, cải tổ.Ông bạn hàng xóm tên Tùng của tôi, lúc đó bọn tôi còn học cấp 2, còn bảo: “bọn BBC nó gọi là đổi mới suy tư mày ạ”.

Trước khi tường Béc Lanh (ở HN lúc đó nhiều người còn gọi thế) đổ, áo lông Đức rất là thời thượng. Sau đó thời thượng phải là (đồng) Đê Mác.

Bức tường Berlin sụp đổ là một sự kiện quá lớn lao và mới mẻ so với nhận thức, hiểu biết và tầm vóc của lãnh đạo Việt Nam lúc đó. Tôi đoán vậy. Nên các vị này thay vì làm vua thì phải tuân theo cái thuận của đất trời, của lẽ tự nhiên, mà hùa theo Đông Âu mà làm đổi mới, thì các vị làm ngược lại. Nói theo ngôn ngữ bây giờ thì lãnh đạo đứng trước cơ hội lịch sử ấy, lại không đủ tâm và đủ tầm, nên đã kệ mẹ nó chuyển biến lịch sử, đồng lòng đóng sập cửa lại. Hơn thế, còn quay đầu chui vào háng kẻ thù cũ mà họ coi: vừa là đồng chí vừa là anh em. Lãng tử hồi đầu chính ra phải là mấy vị lãnh đạo thời kỳ này mới đúng.

Đánh Mỹ, đánh Pháp, đánh Nhật thì được, mà làm bạn với họ thì không dám. Thế có hài không. Sau mấy chục năm, giờ rõ ràng các cựu thù Nhật, Đài Loan, Hàn, Mỹ, Pháp đều là các nước đối tác tốt nhất của Việt Nam. Thế mà vẫn chưa dám làm bạn.

Trong khi đó bức tường Berlin sụp đã được 25 năm. Cơ hội lớn nhất của Việt Nam sau Chiến Tranh đã mất. Thế giới gọi là ngày bức tường sụp, còn Việt Nam gọi là ngày Chị Dậu.

Chẳng qua chỉ tại chữ hèn
Tiền đồ chị Dậu mãi đen thế này.

***

Go West

Bốn năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, bài hát Go West của nhóm Pet Shop Boys (cover) lên hạng nhất ở Đức. Go West cũng làm nên một cơn sốt nho nhỏ ở Hà Nội nhờ danh tiếng của Pet Shop Boys ở thành phố này suốt nhiều năm với hai bài hát rất được ưa thích là It’s a sin và Rent.

Video clip của bài hát này, lúc đó ở VN chưa có MTV, đi về HN từ Đức thông qua đường băng video. Hình ảnh thần tự do hát backvocal và Lê Nin chỉ tay đi về thiên đường phương tây trong clip này thực sự gây ấn tượng.

Hình ảnh những thanh niên đồng phục cầm cờ đỏ leo bậc thang đến thiên đường, một diễu nhại Odessa Steps sequence nổi tiếng trong bộ phim tuyên truyền hạng nhất của nhà nước Xô Viết là Chiến hạm Potemkin, cũng rất ấn tượng. Hồi đó computer graphic là cái gì đó rất hiện đại. Clip này sau còn được đề cử grammy award cho hạng mục music video.

Lời bài hát khá dễ chịu:

“There where the air is free
we’ll be (We’ll be) what we want to be
Now if we make a stand
we’ll find (We’ll find) our promised land

(I know that) There are many ways
(To live there) In the sun or shade
(Together) We will find a place
(To settle) Where there’s so much space
(Without rush) And the pace back East
(The hustling) Rustling just to feed
(I know I’m) Ready to leave too
(So that’s what) We are gonna do”

2. Tính từ

Cấp ba, tôi học trong ký túc xá Mễ Trì của Đại học tổng hợp Hà Nội.

Đó là những năm cuối cùng của bao cấp và năm đầu tiên của cái mà về sau nay được gọi đổi mới.

Ký túc xá rất nghèo nàn, lạc hậu và bẩn thỉu. Bẩn nhất là nhà vệ sinh công cộng ở đầu hành lang mỗi tầng.

Các anh chị sinh viên thì vô tư, hay có các cuộc giao lưu sinh viên trường nọ với trường kia. Sinh viên đại học văn hóa qua chơi thì rất hay nói bậy.

Hồi đó có câu: “Nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất, còn trường văn hóa là thiếu văn hóa nhất”.

Nay thấy báo chí nói người đứng đầu thanh tra chính phủ về hưu xây nhà ở quê to vật, người đứng đầu nội chính bắt tham nhũng lại có tiền đi chữa bệnh tận Hoa Kỳ, bất chợt nghĩ đến cái câu “nhà vệ sinh là nơi mất vệ sinh nhất”. Một câu lẽ ra chỉ đúng ở thời kỳ bao cấp, xã hội đóng cửa, sống bầy đàn với nhau.

Lại nhớ hồi còn bé hơn, còn học cấp hai, sống ở một khu tập thể. Trong khu đấy các hàng xóm là cán bộ nhà nước, rất là nghèo, đi xe đạp, xem TV đen trắng ở phòng công cộng của cơ quan. Nhưng họ rất trẻ trung và tếu táo. Họ hay chế giễu chính phủ là một loại triều đình, quan chức là hoàng tộc. Đứng đầu bộ giáo dục là Tôn Thất Học, bộ y tế là Tôn Thất Đức, bộ tài chính là Tôn Thất Thu, bộ nông nghiệp là Tôn Thất Bát, bộ lao động là Tôn Thất Nghiệp.

Nhìn vào các vấn đề y tế, kinh tế, giáo dục … bây giờ, lại nhớ đến các Tôn Thất đầy giễu cợt hồi xa xưa ấy.

Người ta ca ngợi thành tựu của cái gọi là đổi mới quá nhiều rồi. Tóm lại, cái việc undo những gì mà nhà nước làm sai, quay lại làm theo cách thế giới người ta đã làm từ lâu, thì được gọi là đổi mới, cứu nước cứu dân.

Nhưng chả có ai rút ra sai lầm của đổi mới.

Đọc tiếp

Trước và Sau

Tiếng Việt có cái thú vị là nó hơi lỏng lẻo.

Nói “Anh Khệnh về quê với vợ” có thể hiểu là anh ấy đi công tác xa quê, lấy vợ, nay cả hai vợ chồng cùng về quê; cũng có thể hiểu vợ sống ở quê, anh công tác xa nhà, nay về với vợ.

Hay câu đố vui mà trả lời thế nào thì cũng sai: “Con cún lúc tè, giơ chân sau hay giơ chân trước?”.

Hồi trước, câu hỏi cải cách nên thế nào, làm cái gì trước, cái gì sau, thật là khó trả lời. Người bảo phải cải cách thể chế trước. Người bảo kinh tế phải làm đầu tiên. Người bảo dân chủ phải làm ngay. Người bảo phải nâng cao dân trí, sau mới mở cho dân chủ.

Hồi sau này, ấy là sau khi giàn khoan cắm phập vào mặt chúng ta, tự nhiên trước-sau rõ ràng thành ra cái nghĩa khác.

Bây giờ trước là phía trước, là hải đảo, là chủ quyền, là phải đương đầu với giặc. Sau là phía sau lưng nhà vua ấy. Đọc tiếp

Khác lối

Nhìn lại lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam và bỏ qua tất cả các yếu tố rườm rà che lấp, ta sẽ thấy có một điểm cực kỳ đặc biệt.

Tất cả các cuộc chiến chống ngoại xâm mà ta thắng, dù kẻ thù là Nam Hán, Tống, Thanh, Pháp, Mỹ, thì về cốt lõi ta đều khác đối thủ của mình: hoặc khác ý thức hệ, hoặc khác học thuyết quân sự, tư duy và công nghệ tác chiến; hoặc khác cả hai.

Lúc nó Nho giáo thì ta Phật giáo, lúc họ tự do thì ta cộng sản, lúc chúng dùng ngựa và cung tên thì ta dùng voi và hỏa hổ.

Lúc khác ý thức hệ mà kém về học thuyết quân sự thì chiến thắng phải qua trường kỳ, như Lê Lợi, như Việt Minh. Lúc vượt trội về tư duy tác chiến và công nghệ chiến đấu, như Quang Trung, thì đánh kẻ thù nào thắng cũng nhanh như rửa đít em bé.

Phải khác biệt thì mới chiến thắng.

Nhưng nay thì khó rồi. Ý thức hệ giống nhau. Bộ máy tổ chức từ đảng cầm quyền đến quân đội, chính quyền địa phương hao hao nhau. Định hướng nền kinh tế giống nhau. Phương thức quản lý xã hội cũng giống nhau. Tàu ngầm máy bay cũng giống nhau nốt. Giống cả tên tờ báo Nhân Dân. Haizz

Đọc tiếp

Nhân sự trong vỏ hạt dẻ

Trong cuốn sách Freakonomics của nhà kinh tế Steven Levitt có một trường hợp nghiên cứu khá thú vị. Có một năm tự nhiên tỷ lệ tội phạm dùng súng ở Hoa Kỳ giảm toẹt xuống. Bất ngờ quá, người ta đi tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân được tính đến, từ nâng chất lượng lực lượng cảnh sát đến các đạo luật kiểm soát vũ khí cá nhân, đều được xem xét. Mà hóa ra đều không phải. Tỷ lệ tội phạm giảm đột ngột, là do cách đấy mấy chục năm Mỹ cho phép phụ nữ phá thai. Nhờ phá thai mà các đứa trẻ lẽ ra phải sinh ra trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó nuôi dạy nên người, đã không phải ra đời nữa. Từ lúc đạo luật được thực thi đến lúc nó  có tác dụng xã hội, mất mấy chục năm, và khi nó có tác dụng thì rất bất ngờ, cả ở thời điểm lẫn kết quả.

Trong những năm 1945-1953, Việt Minh tiễu trữ tảo thanh các phần tử đối lập nổi bật rất mạnh tay. Nên đến năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gặp các vấn đề thiếu hụt nhân sự lãnh đạo cao cấp để lắp vào chính quyền mới. Ngô Đình Nhu buộc phải dùng những người giỏi hiếm hoi mà chính phủ tuyển dụng được vào cùng lúc nhiều chức vụ khác nhau trong nội các. Ở chính quyền địa phương, cả Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu buộc phải sử dụng lại công chức cũ thời thực dân, thậm chí có dính đến tận phong kiến. Mà hồi đó “đả thực phản phong” rất mạnh. Đến năm 1960 thì vấn đề nhân sự yếu kém của chế độ đệ nhất VNCH bộc lộ nhược điểm nặng nề. Nay nhìn lại, thấy cả tình báo miền bắc len vào (chưa kể tình báo các nước khác mà ta không biết). Chính quyền đệ nhất VNCH có những bộ óc rất tốt ở cấp cao, nhưng bộ sậu nội các, chính quyền địa phương và đặc biệt là quân sự rất yếu kém. Và nó sụp đổ rất nhanh chỉ trong vòng khoảng ba năm dưới các loại sức ép.

Chưa hết, nhân sự của phe đảo chính lại còn yếu kém hơn nữa. Chính các trí thức am hiểu thời sự miền nam, sau này còn than là các nhà lãnh đạo quốc gia (VNCH) sau 1963 toàn là chính trị gia tép riu.  Sau đảo chính, chính trường miền nam phải mất tới mấy năm để bình ổn bộ máy (1963-1966), phải sử dụng lại cả các chính trị gia đã hết thời. Nhưng rồi sau đó, sự yếu kém, tham lam của hệ thống lãnh đạo nhanh chóng gây ra các vấn đề trầm trọng và làm sụp đổ toàn bộ hệ thống chỉ trong vòng chưa đến mười năm (1975). Đọc tiếp

Chuyện hai cầu

Trong ảnh này có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có Hai Cau The Hucvẻ trang trọng.

Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.

Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ (tiếp và hết)

I. OSS Hoa Kỳ, quân Đồng Minh và múi giờ Hà Nội

Là con một gia đình dòng dõi ở Chicago, Albert Peter Dewey vào học đại học Yale, tốt nghiệp, đi làm phóng viên thường trú ở Paris cho Chicago Daily News và thực hiện các nhiệm vụ ngầm cho Rockefeller. Thế chiến 2 nổ ra, Dewey đăng lính và cuối cùng gia nhập OSS (cơ quan tiền thân của CIA). Đầu tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (15 tháng 8), Dewey được cử đến Sài Gòn, đứng đầu một toán OSS có 7 thành viên, để đại diện cho quyền lợi Hoa Kỳ. Ở thời điểm này Hoa Kỳ chưa có cơ quan ngoại giao trên đất Đông Dương thuộc Pháp.

Khoảng nửa năm trước khi nhóm OSS của Dewey đến Sài Gòn, quân Nhật bất ngờ đảo chính Pháp ở Đông Dương (tháng 3), bắt giữ tù binh (POW), trong đó hơn 200 người Mỹ. Khi Dewey tới Sài Gòn thì Thế chiến 2 đã kết thúc, Nhật đã đầu hàng quân Đồng Minh, ở Hà Nội Việt Minh đã cướp được chính quyền, và đang được phe Đồng Minh (Mỹ, Trung hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch) yểm trợ vì có công chống Nhật. Đọc tiếp

Trong vỏ hạt dẻ

Năm 1940.

Vào năm này chính quyền Vichy ở Pháp thân phe trục (phát xít), các nhân viên ngoại giao của Pháp ở Tokyo đạt được thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật, qua đó chính quyền Đông Dương thuộc Pháp “tề” Nhật. Người Nhật, sau khi thoát khỏi cái bóng khổng lồ của ý thức hệ Trung Hoa, đã tự mình phương tây hóa, tự chủ, lớn mạnh và thắng luôn cái bóng đen khổng lồ Trung Hoa (chiến tranh Trung Nhật Giáp Ngọ 1894-1895), thắng quân đội Nga (1904-1905), chiếm toàn bộ Triều Tiên, rồi chiếm toàn bộ Trung Hoa (1937-1945) và ở thời điểm Pháp ở Đông Dương (Indochina) tề Nhật (1940) thì Nhật đã chiếm Đông Nam Á.

Indochina rất quan trọng. Người Nhật dùng phía bắc (Đàng Ngoài, Đông Kinh = Tonkin) để làm hậu cần cho quân đội Nhật ở Quảng Tây và Vân Nam thông qua cảng Hải Phòng và đường bộ đi tới Lạng Sơn. Họ dùng phía nam (Đàng Trong = Cochinchina) để làm căn cứ hải quân và không quân . Lúc này quân đồng minh (Hoa Kỳ) đã có các hoạt động quân sự ở quanh Hà Nội và Hải Phòng, quân Nhật đã bị máy bay Mỹ ném bom.

Trong một quãng thời gian rất ngắn ở thời điểm Pháp Nhật đang thỏa thuận, ngày 22.9.1940 quân đội Nhật cùng một nhóm quân vũ trang người Việt và người Hoa (Kiến quốc quân, thuộc Việt Nam Phục Quốc Quân của Hoàng Thân Cường Để) tiến từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Đồng Đăng, đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp rút chạy, rồi sau đó quân Nhật cũng rút trở lại qua biên giới. Kiến quốc quân và chỉ huy Trần Trung Lập ở lại chiến đấu, sau bị Pháp bắt và xử bắn ở Lạng Sơn. Cũng nhân biến cố này, các tù nhân của Đảng cộng sản Đông dương được Nhật thả ra từ nhà tù Lạng Sơn khởi nghĩa. Ngay sau đó Chu Văn Tấn được Hoàng Văn Thụ điều xuống nắm quyền. Cuộc khởi nghĩa này, chính là khởi nghĩa Bắc Sơn, bị Pháp quay lại dẹp rất nhanh.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy ủy ban khởi nghĩa đã thử nghiệm được mô hình chính quyền khởi nghĩa sau này được Việt Minh áp dụng khắp nơi trước khi chiến tranh Pháp -Việt (chiến tranh Đông Dương) nổ ra. Trong các thử nghiệm ấy có cả đánh du kích, phá hoại và tảo thanh (giết những người mà họ khép vào tội Việt gian). Chu Văn Tấn sau trở thành Bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám. Đọc tiếp