Chuyện Bố Già

BOGIA_WEBKhi Tập Cận Bình thịt nốt thượng tướng Quách Bá Hùng, các nhà phân tích bắt đầu soi mói vào điểm yếu dường như bây giờ mới lộ của Tập Béo: không có  nhân lực tiếp quản những khu vực Tập xuống đao lấy mạng đầu lĩnh.

Hơi khập khiễng, nhưng vẫn có lý, Tập kém xa nhân vật Don Michael của The Godfather. Ngay sau khi giết caporegime Tessio, Don Michael sai Lampone lập tức tiếp quản băng của Tessio. Trước đó Michael cho phép Rocco Lampone bí mật lập băng riêng của mình mà chính Tom Hagen cũng không biết. Bố Già Michael hình như còn hơn Tập ở chỗ: “không để một ai biết mình nghĩ gì”.

Bạn đọc có thể thích cuốn tiếu thuyết về thế giới ngầm The Godfather của Mario Puzo, có thể không. Nhưng rất nên đọc cuốn sách này. Đọc nó như đọc như một cuốn sách dạy về quản trị, về chiến lược, về đầu tư, thậm chí cả về đắc nhân tâm nữa.

Trước khi tiến hành cuộc chiến đẫm máu tàn sát tất cả các gia đình mafia khác để thống lĩnh giang hồ, Michael Corleone đã đa dạng hóa đầu tư của mình từ bảo kê và bảo tiêu ở miền đông qua một lĩnh vực rất mới mẻ là casino ở một vùng đất khác là Las Vegas. Khi bắt đầu cuộc chiến, Michael giết luôn đối tác ruột của mình ở Las Vegas là Moe Greene để kiểm soát toàn bộ khoản đầu tư của gia đình. Thậm chí trong phần 3 của loạt phim Godfather, Michael còn nỗ lực cải cách thể chế của gia đình để cập nhật với văn minh nước Mỹ (hợp pháp hóa hoạt động của gia đình mafia này). Không chỉ khống chế chính trị gia, Michael còn tác động được đến cả tòa thánh Vatican. Điều kỳ diệu chỉ có trong tiểu thuyết ấy tất nhiên hoàng đế đỏ Tập Cận Bình không thể làm được.

***

[Từ hệ quy chiếu của Don Michael, phân tích giai đoạn bác Ba Duẩn bem Pol Pot nát bươm: cập nhật sau vài tuần nữa]

***

Nhà Đông A Books gần đây tái bản Bố Già (Godfather) của Mario Puzo, bản dịch của Ngọc Thứ Lang.

Tiểu thuyết Godfather của Mario Puzo, bộ ba phim Godfather của Francis Coppola, và bản dịch tiếng Việt của Ngọc Thứ Lang: tất cả đều đã trở thành huyền thoại.

Bố Già, có thể đọc và hiểu, không chỉ là một tiểu thuyết hấp dẫn viết về thế giới ngầm ở New York, mà còn là một cuốn sách quản trị hay hơn bất cứ cuốn sách quản trị nào khác. Kiến thức khởi nghiệp, dựng nghiệp, chiến lược, nhân sự, cạnh tranh, giao dịch nội gián … đều có trong cuốn sách này.

Đọc tiếp

Chuyện bằng hữu

p-38Chiều ngày 2-9 năm 1945, một chiếc P-38 hai thân đầu đỏ của Mỹ bay qua bầu trời quảng trường nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đang đọc Tuyên ngôn độc lập.

Suốt bốn năm trước đó, người dân Việt Nam đã quen với những trận đánh bom của Mỹ nhắm vào các căn cứ quân sự của quân đội Nhật trên đất Việt. Tuyến đường sắt Bắc Nam, cảng Sài Gòn, sân bay Gia Lâm … là những mục tiêu bị không quân Mỹ tấn công.

Những chiếc Lockheed P-38 Lightning hai thân hai đuôi ném bom bằng cách bổ nhào, rồi bỏ đi sau khi vẽ một đường cong tuyệt mỹ trên bầu trời đã gây ấn tượng mạnh với người Việt Nam lúc ấy.

Những chiếc máy bay hai thân đầu đỏ bay qua bầu trời: một hình ảnh đẹp đẽ,kinh điển và tượng trưng cho cái gì đó tân kỳ, xa lạ nhưng đầy quyến rũ.

Cuối tháng 8 năm 1945, phái bộ quân sự OSS từ Côn Minh đến Gia Lâm. Sau 2-9, Bảo Đại lúc này đã ở Hà Nội nghe tin liền lên xe ô tô chạy thẳng đến sân bay Gia Lâm. Lính Nhật gác sân bay nhận ra vị cựu hoàng trẻ tuổi và nhóm Việt Minh hộ tống nên mời các sĩ quan Mỹ ra đón. Vị cựu hoàng, giống như những người Việt trẻ tuổi đầy tò mò và khát khao tìm hiểu, đã được các sĩ quan không quân Mỹ dẫn đi xem những chiếc máy bay hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ: C-46, C-47s và tất nhiên là chiếc P-38 thần thánh. Đọc tiếp

Chuyện học sách

Phi lộ một câu: Lúc đầu định viết về học sách (học thuyết và sách lược) như một bổ túc ngắn cho bài Con đường của rồng, nhưng rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, thành ra bài viết rất dài dòng và lan man này.

I. Phần 1

Sách lược (hành động) đề cập ở đây là sách lược chính trị. Sách lược chính trị không thể đứng một mình, dù ít hay nhiều cũng phải dựa  vào các học thuyết (phát triển) kinh tế, xã hội và quân sự. Nhưng ở Việt Nam thì nói chung cái gì cũng khác.

Quay trở về quá khứ, ở ta đã có lúc học thuyết và sách lược đã có lúc bị trộn lẫn và diễn đạt ra thành lời chỉ trong một vài từ, ngắn tũn và bí hiểm.

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” tương truyền là một “học thuyết” do Trạng Trình phán ra rồi được các Chúa Nguyễn sử dụng để phát triển vương quốc, và sau này thành một đế chế rộng lớn, của riêng dòng họ mình. Từ quan điểm hiện đại, nhìn vào nội hàm của câu sấm, có thể thấy “học thuyết” này có cơ sở lý luận là “địa chính trị” / “không gian sinh tồn”. So với thời điểm ấy thì tư tưởng của Trạng Trình dạy cho chúa Nguyễn rất tiên tiến, nên nhà Nguyễn thành công cũng là dễ hiểu. Còn mục đích mà lập luận hướng tới là để “lập quốc” và “đất nước” này chỉ là để nuôi dưỡng và phát triển một dòng họ (từ đẳng cấp quan nhà Lê, lên lãnh chúa, và cuối cùng thành vua). Nó không phải là học thuyết để xây dựng một nền xã hội công bằng văn minh. Từ đó sách lược (đường lối thực hiện, hành động) của các Chúa Nguyễn cũng không vượt ra khỏi tầm vóc của “học thuyết vắn tắt” này, tuy về sau họ có phát triển học thuyết từ “khả dĩ dung thân” lên “vạn đại dung thân”.

Bây giờ nhìn lại, rõ ràng những gì chúa Nguyễn thực hiện, từ Nguyễn Hoàng tới lúc Gia Long lên ngôi đều có các đặc tính của việc một cường quốc (Đế quốc Đại Nam) hình thành thông qua mở rộng không gian sinh tồn (Friedrich Ratzel): bành trướng thông qua việc chiếm và sáp nhập các vương quốc yếu hơn, đường biên giới mềm, chỉ có giá trị tạm thời trong quá trình bành trướng. Suốt thời của các chúa Nguyễn, kể cả thời binh đao với Tây Sơn đến thời Gia Long lập quốc thì biên giới luôn mềm. Thời Minh Mạng, thậm chí đến tận thời Ngô Đình Diệm, đế quốc này còn thể hiện một đặc tính nữa theo Ratzel: Dân tộc văn minh hơn cưỡng bức các dân tộc bị thôn tính phải theo văn hóa của mình. Có thể nói nhờ tư tưởng gói gọn trong “một câu” mà Trạng Trình truyền cho mà nhà Nguyễn vượt xa nhà Trịnh về chính trị và sách lược hành động. Có thể nó cũng đi vào tiềm thức nên học thuyết Darwin xã hội sau này được ưa chuộng ở Nam Kỳ thuộc Pháp và trong nhóm các cụ Đông Du.

Tương tự như vậy  “giữ chùa thờ phật thì ăn oản” là một “học thuyết” kèm luôn “sách lược” mà Trạng Trình truyền cho cho nhà Trịnh. So với học thuyết dành cho nhà Nguyễn thì học thuyết này cũ kỹ hơn nhiều, sách lược cũng hẹp và nông hơn (chỉ để ăn). Triết lý của học thuyết này là đề cao tính chính danh (của nhà Lê) để kiếm ăn (cho họ Trịnh). Nó cũng gần gũi với triết lý dân gian “ăn cây nào rào cây đấy”. Nhà Trịnh về cuối lũng đoạn chính quyền, quân đội, tham nhũng, sống xa hoa, … đều không thoát ra khỏi triết ký của “học thuyết một câu” này.  Do sự khác biệt giữa hai học thuyết nên dù xuất phát điểm nhà Trịnh tốt hơn nhà Nguyễn nhiều lần nhưng về sau nhà Trịnh kém nhà Nguyễn cả về chính trị, kinh tế và phần nào là quân sự (bốn lần chúa Trịnh kéo quân đánh miền nam thì thua cả bốn). Nạn Kiêu Binh làm đảo lộn Bắc Hà  cũng từ cái gốc của “giữ chùa, dựng phật” này mà ra. Đọc tiếp

Kinh nghiệm biển đảo của Việt Nam Cộng Hòa

Việc bỏ không dùng facebook có nhiều cái rất lợi, và có vài bất lợi. Cái bất lợi hôm qua là không tìm được Nhân Tuấn Trương để hỏi về kinh nghiệm Việt Nam Cộng Hòa trong việc tranh chấp biển đảo.

Bắt đầu từ việc cụ Đình Đầu cho xem bản đồ Đông Dương Thuộc Pháp, in năm 1906 ở Paris. Bản đồ hành chính xứ Nam Kỳ (Cochinchine) thuộc Đông Dương thuộc Pháp, trong đó bên cạnh đảo Phú Quốc (trên bản đồ chỉ rõ thuộc Hà Tiên) còn hai hòn đảo khá to là Hòn Năng Trong và Hòn Năng Ngoài (cũng chỉ rõ thuộc Hà Tiên).

Hai “hòn” này, và nhiều hòn khác nữa, sau thời Pháp, tới thời Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tranh chấp với Cambodia. Không hiểu kinh nghiệm của VNCH về việc này (từ 1956 đến 1975) như thế nào, liệu có học hỏi được gì không.

Tóm tắt sơ sơ như sau để các bác biết.

Hai đảo (hòn) là Hòn Năng Trong và Hòn Năng Ngoài, khá là to, còn được gọi là đảo Phú Dự. Tiếng Pháp lần lượt là Ile du Milieu và Ile à l’Eau.

Thời Nguyễn, trên hai đảo này đã có thôn Thiên Phước, xứ Năng Dự (Hòn Năng). Trưởng thôn (đầu tiên?) tên là Trần Văn Tự.

Thời Pháp, sau khi thành lập chính quyền bảo hộ ở Nam Kỳ (1867) và Cambodia (1863) thì Pháp lấy tất cả các đảo trong vùng biển này và vùng Hà Tiên (tức là cả Thổ Chu, Phú Quốc, Hải Tặc …) cho vào Nam Kỳ. Đến ngày 25-5-1874 thì thống đốc Nam Kỳ ra quyết định thành lập Quận Biển thuộc chính quyền Nam Kỳ. Quận này  bao gồm tất cả các đảo biển Hà Tiên. (Quận biển, hay phết). Sau đó một thời gian thì hạt Phú Quốc tách ra và nhập trở lại Hà Tiên. Đọc tiếp

Mùa mưa và ngày 30.4

Hôm rồi  tôi rủ bạn bè: Ngày 30 tháng 4 phải đi uống bia chứ nhỉ, xét cho cùng thì không có ngày này thì hội mình không có ngồi đây.

Thực ra trong nhà, vợ tôi đã nói như vậy từ hồi mới cưới. Không có 30/4 của mấy chục năm trước thì ta không gặp được nhau thế này. Dù rằng mỗi sáng tháng Tư đi chợ Tân Định, về nhà vợ tôi vẫn bảo: ngoài chợ người ta vẫn nhắc hôm nay họ đánh đến đâu, đánh đến đâu. Ở Sài Gòn, ngoài chợ, có những người bình dân vẫn nhớ những ngày tháng tư ấy, thay vì chào nhau buổi sáng người ta nhắc lại những ngày cuối cùng của mấy mươi năm trước.

Nhóm bạn thì tếu táo: Không có ngày này, chắc tôi sẽ là một thằng con ông cháu cha nho nhỏ, đi du học Bắc Hàn. Không có ngày này chắc em đang ở Hà Nội và hô khẩu hiệu Lê Chủ Tịch muôn năm.

Không có ngày này, chắc chúng ta đang dùng ngôn ngữ mao-ít. Chủ tịch Kim Chính Ân, thay vì Kim Jong Un. Đọc tiếp

Ông Ba Bị, Mẹ Mìn và …

Ba bị chín quai

Ba bị chín quai mười hai con mắt, hay bắt trẻ con, gọi tắt là ông Ba Bị, là một câu nói kiểu đồng dao, thường dùng để dọa trẻ con.

Mười hai con mắt = 6 người = 1 tiểu đội (bây giờ).

Ba bị mà có chín quai = mỗi bị ba quai.

Đây chính là cách hành quân thần tốc của Tây Sơn. Mỗi tiểu đội quân chính quy (thân binh) có 6 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Mỗi nhóm có một cái bị to, có ba quai. Thiết bị, lương thực, nước uống của cả tiểu đội quăng vào cái bị ấy. Rồi cứ thế mà đi bộ ra Thăng Long. (Có thể họ đeo súng trên vai, các đồ khác mới cho vào bị, ba quai xỏ vào 2 đòn gánh loại ngắn hình chữ lambda λ, đi thành hình tam giác nhọn, một người đi trước, hai người đi sau).

Ngày xưa đường không như bây giờ, ngoài việc là đường đất thì còn phải vượt qua rất nhiều sông ngòi đầm lầy, đi bộ kiểu này là nhanh nhất. Quân Tây Sơn là quân đội phương nam (không có mùa đông), quân trang nhẹ và ít, nai nịt gọn gàng, ăn nghỉ rất khắc khổ. Khi chiếm đóng Thăng Long lần thứ nhất, người Bắc Hà rất ngạc nhiên khi quân Tây Sơn ngủ ngoài trời, trên mặt đất.

Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, quân Tây Sơn vừa hành quân vừa bắt lính ở các làng mình đi qua rất dã man. Già cũng bắt, thiếu niên cũng bắt. Ai còn khỏe và là lính thì xung quân, còn không thì làm dân công. Thanh niên ở vùng từ Hà Tĩnh đổ ra bị bắt nhiều nhất, nên dân sợ chết khiếp, từ đó hình thành câu đồng dao này (gốc gác của câu đồng dao này có thể là từ vùng Hà Tĩnh). Dần dần Ông Ba Bị thành hình ảnh đe dọa trẻ con.

Ông Ba Bị dùng bạo lực bắt người, khác với Mẹ Mìn là dụ dỗ lừa người. Mẹ Mìn  xuất hiện ở nông thôn Miền Bắc thời kỳ Pháp mộ phu đi Sài Gòn, đi Tân Thế Giới này nọ. Mẹ Mìn dụ dỗ thanh thiếu niên lên Hà Nội rồi bắt bán cho bọn buôn người, rồi bọn này bán cho các sở mộ phu. Các bọn lừa phụ nữ bán sang Trung Quốc bây giờ chính là “mẹ mìn” hiện đại. Nguồn gốc của việc buôn người, có thể có từ thời Trần. Vào thời Trần có thể đã hình thành một thị trường buôn nô lệ, bao gồm buôn bán tù binh Chăm .

 

SlowHand Đọc tiếp

Chuyện leo cây và nước ta lớn hay nhỏ

Hôm rồi đi uống bia với Lệ Ngưng, cựu ca sĩ văn công quân đội, nàng bảo: nước mình bắt chước cũng không nên thân, cách mạng ô thì ra cách mạng cây.

Bia đang vui, không tiện hỏi nàng nói chữ cách mạng theo nghĩa nào. Cách mạng theo nghĩa ông cụ giải thích là cách cái mạng nó đi, thì đúng là chặt cây rồi.

Lại nhớ đến ngày xưa có chú bé làm tập làm văn, đề bài tả ông ngoại. Chú viết: Ông ngoại em tóc bạc phơ, ngày nào cũng leo cây thoăn thoắt.

Cô giáo phê: người già không thể leo cây. Chú bèn giơ tay phản đối: Tại cô không đọc chú thích của em, chú thích nói “bà ngoại em tên là Cây”.

Vụ cách mạng cây này hay phết, nó cho thấy hóa ra ở Hà Nội vẫn có thể có phong trào (hoạt động) dân sự. Mở ngoặc chút, hoạt động dân sự nói đến ở đây có khuôn khổ rất nhỏ: người dân đấu tranh với chính quyền bằng các biện pháp dân sự (cộng đồng) để bảo vệ các quyền dân sự có tính cộng động của mình. Và họ thắng, chính quyền thua. Hay phết.

Hà Nội có một cái rất đặc thù: thời chiến tranh, thời tem phiếu, thời phân phối, thời xin cho kéo dài quá lâu nên chính quyền quen thói thô lỗ thích làm gì thì làm, quên mất dân có rất nhiều quyền dân sự được pháp luật và hiến pháp bảo vệ. Dân thì tệ hơn, vì quen với việc cúi đầu nghe chính quyền, người dân không những quên những quyền đương nhiên của mình, và quên mất cách đấu tranh dân sự.

Đấu tranh dân sự khác hẳn các đấu tranh khác: trong đó không có lòng căm thù, không sử dụng các biện pháp thô bạo. Mà hai cái món căm thù và phương pháp bạo lực này được giáo dục và tuyên truyền tiêm vào não nhân dân mấy thế hệ qua. Nay có vẻ như, ít ra ở HN, đấu tranh dân sự đã quay lại.

Nhưng vẫn có gì đó đáng lo ngại. Nếu xã hội, cộng đồng tự nó trưởng thành, tự nó cứng cáp, thì các hoạt động dân sự của nó mới thực sự vững chắc và không lạc lối. Ngày xưa công chức, giới có của Hà Nội thời Trần Trọng Kim đã từng có những hoạt động dân sự rất oách. Không ngờ Việt Minh, một lực lượng bên ngoài cộng đồng lợi dụng xoẹt một phát lấy luôn Cách mạng tháng 8 về tay mình. Ở Sài Gòn thì ở đâu hiện ra Trần Văn Giàu nhận luôn cách mạng ở SG là của mình hehe, bọn trí thức tổ chức cách mạng ấy, sau lại chả cay vãi. Hậu quả của hai vụ này, thì đến bây giờ vẫn còn mệt. Mà lịch sử thì rất hay lặp lại hehehe.

Đọc tiếp

Chuyện mắc kẹt

(Bài này có rất nhiều phim hehehe, mọi người đọc cuối tuần cho vui).

Phần 1: Ít đi để nhiều hơn (đã đăng trên TTCT từ năm ngoái với tên Châu Sa).

Rất nhiều năm trước, bộ phim Hoàng Phi Hồng đưa tên tuổi Từ Khắc và Lý Liên Kiệt lên đỉnh cao nhờ những pha đánh võ hoa mỹ trong với các nhân vật bay lượn rắc rối và quyến rũ trong không gian trong lúc thi triển võ công.

Cách đây vài năm, Từ Khắc và Lý Liên Kiệt trở lại với Long Môn Phi Giáp, đánh võ ít rườm rà hơn mà ra đòn lại hiệu quả hơn, cả trong phim và trong mắt khán giả. Nhân vật của Lý Liên Kiệt liên tục ra đòn vào tay hoặc chân đối thủ chỉ một tích tắc trước khi bọn này xuất chiêu.

Năm nay, nhân vật John Wick trong  bộ phim cùng tên còn tiến xa hơn, không chỉ di chuyển đơn giản trong không gian hẹp để đánh vào chân hoặc tay đối thủ khiến bọn này thậm chí không thể rút súng, John Wick còn sử dụng cách bắn súng trong các phim của Ngô Vũ Sâm, di chuyển khôn khéo để áp sát đối phương rồi gí súng sát vào đầu mà bắn.

Phim là tác phẩm người ta bịa ra để khán giả mua vui mà cũng phải thuận theo xu hướng “đơn giản hơn mà hiệu quả hơn”. Thậm chí, truyện phim của John Wick còn đơn giản đến mức ngớ ngẩn, bộ phim chỉ có đánh và bắn nhau, cốt để thoả mãn tối đa một tiêu chí của người xem: coi đã con mắt.

Năm 2013 được coi là năm cuối cùng và là năm khó khăn nhất của cơn suy thoái. Sau những biến động bi đát, cuối năm mọi người ngậm ngùi rồi hy vọng, một hy vọng hồn hậu: qua những năm suy thoái thế này mới thấy những giá trị cốt lõi, bền vững cần phải quay lại. Năm 2014 và có thể là nhiều năm tới, kinh tế sẽ chỉ đi ngang, hoặc tăng trưởng rất là khiêm tốn. Những năm tháng tới đây sẽ là thời gian để xã hội tự thanh lọc những gì phù phiếm, những ăn xổi ở thì, để trở về với những giá trị bình dị,bền vững. Người ta sẽ chi tiêu ít đi và khôn ngoan hơn. Mua ít đi, dùng nhiều hơn. Dùng ít đi, hiệu quả cao lên.

Đọc tiếp

Tư lộn cái lềnh

Trên thời sự VTV cách đây mấy hôm, cô phóng viên phỏng vấn ông bộ trưởng Bộ Giáo Dục, gọi ông này là Tư Lệnh. Cô còn nhắc đến một lần chính ông bộ trưởng phát biểu rằng “cải cách giáo dục là trận đánh lớn”.

Bộ trưởng Bộ Giao Thông cũng hay được gọi là Tư Lệnh.

Thời bình mà cứ như thời loạn, sắp đánh nhau đến nơi. Vậy mà cứ đòi tiến lên xã hội dân sự.

Việc sử dụng danh từ quân sự trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ chính trị thời sự có cái gì đó rất bệnh hoạn và có tác hại xã hội rất lớn (với ngôn ngữ kinh doanh, hoặc thể thao thì tạm được vì nó có tính đối kháng, cạnh tranh).

Căn nguyên của việc sử dụng từ quân sự trong đời thường không chỉ là tàn dư của hai cuộc chiến tranh mà là di sản chính trị của rất nhiều thế kỷ.

Từ thời Lê, hoặc ít nhất (và rõ nét nhất) là  từ thời Trịnh –Nguyễn cho tới gần đây nước Việt Nam luôn sống dưới một nhà nước độc tài (phong kiến hoặc ĐCS) và được một chính phủ quân sự vận hành. Trên là một ông vua, dưới là chính quyền quân sự do hai chúa Trịnh Nguyễn nắm ở hai đàng. Thời Quang Trung (ngoài bắc) và Thái Đức (trong nam) thì toàn tướng lĩnh nắm quyền. Thời hiện đại, Việt Nam mới manh nha phi quân sự chính quyền rất gần đây (khoảng 30 năm),bắt đầu từ những năm hậu chiến thời Lê Duẩn (lưu ý: phi chính trị quân đội và phi quân sự chính phủ là hai mặt để giải quyết cùng một vấn đề). Nhân nói đến ông Ba Duẩn, nhận thấy nước ta có Ba anh Ba.

Anh Paul Ba đi xuất khẩu lao động bằng nghề rửa bát, sau qua Châu Âu thấy làm nghề  lao động không ăn thua, anh bèn làm cách mạng. Anh Ba Duẩn cũng làm cách mạng, đánh Mỹ rồi đánh Tàu rất ác. Anh Ba Duẩn làm nhiều rất điều kỳ thú,động cơ đằng sau thì không rõ, nhưng kết quả rất đặc biệt và có ý nghĩa lâu dài với quốc dân.Ví dụ nhờ chính sách của anh Ba Duẩn mà nước VN là nước hiếm hoi trong khu vực mà người Hoa không gây được ảnh hưởng kinh tế gì. Hoặc không biết vì lý do gì mà anh Ba Duẩn và anh Sáu Búa cho phe quân đội re kèn, khiến cho VN thành chính quyền phi quân sự rất sớm, sớm hơn các nước độc tài quân sự như ở Mỹ Latin, Hàn Quốc, Myanmar, Indonesia … (thử nghĩ anh Ba mà tự phong cho mình chức thống chế xem sao). Anh Ba thứ ba là anh Ba giải phương trình. Anh Ba này ngày càng tỏa sáng, số lượng fan của anh đang tăng với tốc độ chóng mặt. Đọc tiếp

Long Nhượng Tướng Quân

Nguyễn Đức Thành có lần trả lời câu hỏi ‘Ai là nhà vua lập quốc, Nguyễn Ánh hay Nguyễn Huệ” như sau: Nguyễn Huệ có công san lấp mặt bằng, Nguyễn Ánh lập quốc.

Quả thực, đế quốc Đại Nam của Minh Mạng, mọc lên từ nước Việt Nam của Gia Long Nguyễn Ánh. Nước Việt Nam của Nguyễn Ánh được xây trên hoang tàn của ba mươi năm nội chiến. Một hoang tàn đổ nát tận gốc rễ xã hội mà di sản tồi tệ của nó còn tồn tại đến tận ngày nay. Bù lại, 30 năm nội chiến ấy đã thống nhất đất nước cả về địa lý: cao nguyên, đàng trong, đàng ngoài; cả về thể chế chính trị: cho vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài  và chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào sọt rác. Xóa bài làm lại từ đầu.

Công cuộc san lấp mặt bằng cấp quốc gia của Nguyễn Huệ bắt đầu khi ông 24 tuổi (1777), cùng Nguyễn Lữ cầm quân chinh phạt Gia Định, giết chúa Nguyễn lúc đó là Nguyễn Phúc Thuần; và rồi kết thúc năm khi ông 36 tuổi (1789) bằng chiến dịch nay được gọi là chiến dịch Việt – Thanh, đánh trong vòng 5 ngày sạch bách liên quân nhà Lê (Chiêu Thống) và nhà Thanh (Càn Long – Tôn Sĩ Nghị). Danh tướng Hứa Thế Hanh của Càn Long bị đập phát vỡ tan ở chuỗi phòng ngự Hạ Hồi – Ngọc Hồi. Hậu duệ của ông tướng này là Hứa Thế Hữu sau cũng vâng lời Đặng Tiểu Bình qua Việt Nam đánh nhau thua nhưng về nước vẫn được báo công (cách đây mấy năm báo Hà Nội Mới có bài ca ngợi Hứa Thế Hữu hết lời). Đọc tiếp